
Năm 1967, nhà báo Wilfred Burchett (Australia) tìm đến chiến sĩ cơ giới Tô Văn Đực bởi quá kinh ngạc trước thành tích chế tạo vũ khí, đào bom nổ chậm của người anh hùng mới chỉ học đến lớp 4.
"Như nông dân lao động phải có quốc xẻng, tôi nghĩ mình phải tự tạo nên phương tiện, vũ khí đánh giặc. Thanh niên mà, ai cũng căm thù giặc, khao khát được đóng góp điều gì đó cho quê hương, xóm làng", anh hùng Út Đực, nay 83 tuổi, hồi tưởng về ký ức thời chiến.
Trong căn nhà rộng rãi, yên bình tại ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, ông Út Đực (tên thật Tô Văn Đực, SN 1942) niềm nở dẫn phóng viên Dân trí tới chiếc tủ kính đặc biệt - nơi lưu giữ những chiếc mìn gạt, đèn pin, túi xách, bi đông đựng nước… như những kỷ vật vô giá. Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng những hình ảnh năm xưa vẫn sống động trong ký ức của người anh hùng đất thép Củ Chi.
Nhà nghèo, ít học, Út Đực khi ấy mang hành trang là kiến thức sửa xe đạp và kỹ thuật cơ giới học được từ những năm bươn chải kiếm sống để gia nhập vào đội ngũ dân quân du kích xã Nhuận Đức, phụ trách công xưởng sửa chữa vũ khí hỏng hóc.

Thời điểm đó, Mỹ - ngụy tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt, thí điểm lập ấp chiến lược tại nhiều vùng nông thôn ở miền Nam. Tại xã Nhuận Đức huyện Củ Chi, quân chủ lực ngụy càn quét liên tục, hòng khống chế, dập tắt các cuộc đấu tranh cách mạng. Lòng căm thù giặc sục sôi cùng ý chí tự lực cánh sinh, anh thanh niên Út Đực tự nhủ phải chế tạo bằng được các loại vũ khí đánh địch.
"Đầu thập niên 1960, du kích, dân quân các vùng Củ Chi thiếu thốn đủ thứ. Thời đó chỉ có bộ đội chủ lực mới có súng đạn còn vũ khí của du kích, dân quân chủ yếu là mã tấu, tầm vông, lựu đạn. Vào xưởng năm 1962, tôi đau đáu làm sao để tìm bằng được nguyên liệu, sắt thép, tạo nên cây súng từ đống sắt vụn, bổ sung thêm vũ khí cho người dân đánh giặc", ông Đực nhớ lại.
Nhờ trí thông minh cùng đôi bàn tay tháo vát, ông Đực biến những vật liệu thô sơ thành súng ngựa trời, súng trường, súng ngắn K54… Tuy nhiên, với một người chỉ học đến lớp 4, chàng thanh niên năm đó trải qua không ít khó khăn khi phác thảo, chế tạo, lắp ráp vũ khí.
"Có lần, tôi năn nỉ mượn một người anh khẩu súng 12 ly của Mỹ. Mang về xưởng, tôi tháo hết các bộ phận súng ra đặt trên bản vẽ. Trình độ vẽ kỹ thuật không có, tôi đành để cây súng trên nền giấy trắng. Bộ phận nào giống chữ A thì tôi vẽ chữ a, giống như B thì tôi vẽ chữ b, ghi nhớ nằm lòng từng chi tiết trong đầu.
Làm được cây súng mô phỏng loại súng này không đơn giản bởi bộ phận cò nổ của súng Mỹ là tự động, bắn một viên là lên luôn viên khác. Tôi ít học, ban đầu mày mò thực tế rất khó, cả tháng trời mới ráp xong được một chiếc súng", ông chia sẻ.
Trong vòng 2 năm, ông Đực tạo được 21 khẩu súng trường, 19 khẩu súng ngắn và 1 khẩu tiểu liên. Ông vừa nghiên cứu tình hình bên ngoài, vừa cải tiến vũ khí, vừa hướng dẫn cho anh em trong xưởng sản xuất nhiều khẩu súng chất lượng tốt, góp phần bẻ gãy các trận càn của địch, buộc giặc phải ngừng bắn phá một thời gian.

Vị chiến sĩ cơ giới Út Đực cũng từng có chiến công đánh chìm một tàu tiếp tế hậu cần lớn của Mỹ trên sông Sài Gòn, đậu gần ấp Bến Đình, xã Nhuận Đức.
Lần thử nghiệm đầu tiên, ông dùng một quả bom 50kg từ thời kháng chiến chống Pháp, đưa ra sông, nhưng sóng đánh dàn bom trôi mất. Không nản chí, ông nghiên cứu mìn thủy lôi của bộ đội, mua 20 chiếc thùng đựng dầu từ đồng nát, hàn kín lại, chế thành phao rồi gắn khối thuốc nổ lên trên. Lần thứ hai, tàu trúng mìn, chìm xuống nước. Ông rút lui vào bụi rậm thoát thân, tránh đạn của lính Mỹ.

Sau thất bại với chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đông - xuân 1965-1966, Mỹ tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ", mục tiêu đánh bại quân chủ lực Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Một ngày tháng 1/1966, đất trời Củ Chi rung chuyển trong không khí nồng nặc mùi thuốc súng, bom đạn. Cuộc hành quân Crimp (Cái bẫy) mà bộ binh Mỹ kết hợp không quân, xe tăng, pháo binh đổ bộ vào xã Nhuận Đức đã liên tục dội bom, rải chất độc hóa học, càn quét, biến vùng Bắc Củ Chi thành chiến trường khổng lồ.
Là vùng đệm nằm giữa những cánh rừng bạt ngàn của miền Đông và Sài Gòn, Củ Chi trở thành cái gai cần nhổ bỏ trong mắt quân địch.

Tối đó, cách 2km nơi địch đóng quân, ông Đực cùng một người bạn nấp sau rặng cây, bí mật theo dõi động thái giặc. Tình hình nguy cấp, người đội trưởng xưởng sản xuất vũ khí nhận thấy khó khăn trăm bề. Địch càn quét với đội quân hùng hậu, vũ khí hiện đại, làm sao để du kích, người dân đủ lực chiến đấu?
"Tôi vắt óc nghĩ làm sao để đánh xe tăng của địch. Thời ấy chúng tôi làm gì có B40 để đánh tăng? Mình làm phải làm gì đó! Tôi không sợ, thanh niên mà, chỉ mong có cơ hội đánh giặc", ông Tô Văn Đực nhớ lại.
Nghĩ là làm, ngay ngày hôm sau, ông Đực đi nhặt bom bi - loại mà địch thả xuống nhưng không nổ - mang về mở ra tìm hiểu tính năng, rồi chế thuốc nổ vào tạo thành trái mìn cán.
Lần thử nghiệm đầu tiên, ông đoán hướng đi của xe tăng, đặt mìn cán cách chiếc xe khoảng 20m. Kết quả, xe của địch từ từ đi tới, cán ngang, đứt xích. Trận đầu xem như thành công. Vừa làm, ông vừa trực tiếp mang đi đánh địch để nghiên cứu bổ sung. Sau đó, ông tiếp tục suy nghĩ, cải tiến mìn cán thành mìn gạt để tăng tính năng đánh tăng, làm sao để những chiếc xe tăng M113, M118, M41 "đụng đâu nổ đó". Ba tháng sau, trái mìn gạt ra đời.
"Mìn gạt khác mìn cán ở cái cần gạt. Tôi cải tiến vài thao tác, sau đó đem mìn dàn hàng ngang ở những nơi xe tăng địch nhất định đi qua. Trước đây, bánh xe tăng cán trực tiếp lên mìn mới nổ còn bây giờ xe tăng chạy qua, đụng vào chỗ nào của cần gạt cũng đều bị tiêu diệt", ông Đực nói.

Sáng chế mìn gạt của Tô Văn Đực được phổ biến rộng rãi trên chiến trường, góp phần quan trọng vào phong trào du kích, chiến đấu để nhận danh hiệu "dũng sĩ diệt Mỹ", "dũng sĩ diệt xe tăng Mỹ" thời bấy giờ. Có lúc, xưởng không đủ nhân lực, người già, phụ nữ, trẻ nhỏ lại xắn tay vào sản xuất mìn. Mỗi xã ở Củ Chi, người dân gài sẵn mìn ở các vùng đất "bãi tử địa", bởi chỉ cần băng qua đó, xe tăng sẽ phát nổ, cháy rụi.
Tháng 1/1967, Mỹ càn quét Củ Chi trong cuộc hành quân Cedar Falls (Bóc vỏ Trái Đất). Những quả mìn gạt do anh hùng Tô Văn Đực sáng chế được sử dụng khắp các trận địa, góp phần tiêu diệt hàng trăm xe cơ giới và nhiều trực thăng, đẩy lùi bước chân tội ác của quân thù. Trong đó, phải kể đến anh hùng liệt sĩ Phạm Văn Cội, người từng dùng bom mìn do Út Đực sáng chế để chiến đấu, giết gần 90 tên giặc trong một trận đấu và được phong "kiện tướng diệt Mỹ".