Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng

Vào thế kỷ 17, 18 thời Chúa Nguyễn, Hội An là thương cảng sầm uất, giao thương nhộn nhịp với các khu phố dành cho người nước ngoài, được đánh giá là thương cảng tiêu biểu của châu Á.
Ngược dòng lịch sử, năm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng – con thứ hai của Nguyễn Kim được vua Lê cho vào trấn thủ trấn Thuận Hóa theo kế sách “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhằm tránh thế lực nhà Trịnh. Năm 1570, Nguyễn Hoàng được nhà vua cho kiêm lãnh trấn Quảng Nam. Tháng 7 năm Nhâm Dần (1602), chúa Tiên Nguyễn Hoàng thành lập Dinh trấn Quảng Nam ban đầu tại xã Cần Húc ( Duy Xuyên) sau dời về Thanh Chiêm huyện Điện Bàn. Ba năm sau, Chúa cho tách huyện Điện Bàn lúc đó thuộc trấn Thuận Hóa ra khỏi Thuận Hóa, thăng làm phủ lãnh 5 huyện: Tân Phước, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh và Phú Châu. Cũng vào năm này, phủ Hoài Nhân được đổi thành phủ Quy Nhơn, cũng trực thuộc Quảng Nam Dinh.
Hình ảnh tàu thuyền tấp nập trên sông Hội An (Nguồn: "Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793)" của tác giả John Barraow, Nguyễn Thừa Hỷ dịch)
Nhà nghiên cứu Phan Khoang nói về sự ra đời của dinh Quảng Nam như sau: “…Sau khi ở Đông Đô về (1600), Đoan quận công dời Dinh sang phía đông dinh Ái Tử trước kia, bấy giờ gọi là Dinh Cát, rồi nhân nhận thấy trấn Quảng Nam đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế thu vào nhiều hơn đất Thuận Hóa mà số quân thì cung bằng quá nửa, nên có ý kinh doanh đất này. Hoằng Định năm thứ ba (1602) Chúa đi chơi núi Hải Vân, thấy núi non hiểm trở, phán rằng “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”, Chúa lại vượt qua núi xem xét hình thế , sai lập dinh ở xã Cần Húc (sau này là làng Vân Đông kề làng Thanh Chiêm - NV), xây kho tàng, chứa lương thực, rồi sai công tử thứ sáu là Nguyễn Phước Nguyên trấn giữ” (Phan Khoang - Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1777-Nxb Khai Trí, Sài Gòn 1967 tr.161).
Theo sách “Ô Châu cận lục” do Dương Văn An nhuận sắc (1553) thì trong số 66 xã của huyện Điện Bàn có ghi chép một số xã hiệu nằm ở phía Bắc làng Thanh Chiêm như Phong Hồ (nay là phường Điện Nam Bắc-thị xã Điện Bàn), phía đông làng Thanh Chiêm như Lai Nghi (nay thuộc phường Điện Nam Đông-thị xã Điện Bàn) và hai làng thuộc Hội An ngày nay như Hoài Phô, Cẩm Phô…” (Dương Văn An (nhuận sắc) - Ô Châu cận lục - NXB Giáo Dục, Hà Nội 2009 tr.38,39).
Hội An - người nước ngoài thường gọi là Faifo - trước đó từng là cửa biển lớn của Champa với cụm đảo Cù Lao Chàm (Tiêm Bất La) và Đại Chiêm hải khẩu. Đây là cửa ngõ miền Amatavati của vương quốc Champa không xa thánh địa Mỹ Sơn và các kinh đô Sinhapura (Trà Kiệu), Indrapura (Đồng Dương). Năm 1653, A.De Rhodes trong sách “Những cuộc hành trình và truyền giáo tại Trung Hoa và những vương quốc khác ở phương Đông” ghi bản đồ Đại Việt thì vùng Hội An được gọi là Hải Phố (Fayfo hay Faifo).
Như vậy việc lập Dinh trấn Quảng Nam hay Thanh Chiêm, người phương Tây thời đó gọi là Cac-ciam hay Dinh ciam-Dinh Chiêm, Kẻ Chiêm, Kẻ Chàm. Thanh Chiêm chỉ cách Hội An 6 dặm (hơn 8 km) rất thuận tiện cho việc kiểm soát xuất nhập khẩu hàng hóa và ngoại thương, cũng như tiện việc giao tiếp với thương nhân nước ngoài thời đó. Thanh Chiêm nằm ngay trên đường thiên lý Bắc Nam và ngoài thủy lộ chính Thu Bồn, Cổ Cò (Lộ Cảnh Giang), về sau (vào thời các vua Nguyễn) Thanh Chiêm còn nối với Touron (Tourance, Đà Nẵng) qua sông đào Vĩnh Điện
Dinh trấn Quảng Nam có vai trò hết sức quan trọng với sự thăng hoa của Hội An phố (Faifo) - nơi có Đại Chiêm hải khẩu - với chính sách ngoại thương thoáng mở của các chúa Nguyễn như chính sách “trú đông”, “lưu đông” hay cho thương nhân nước ngoài cư trú vô thời hạn, được dựng làng, lập phố có chế độ “tự quản riêng” như trường hợp “Phố Hoa”, “Phố Nhật” ở Hội An. Trong khoảng thời gian từ 1604 đến 1634, số thương thuyền Nhật đến Hội An hiếm tới một phần tư số thương thuyền Nhật cập bến các nước Đông Nam Á.
Hội An trở thành đô thị thương cảng sầm uất và thịnh vượng bắt đầu từ đầu thế kỷ XVII. Hội An không những là thương cảng quan trọng của Việt Nam mà còn là trung tâm buôn bán lớn của Đông Nam Á, một trạm dừng chân tiện lợi trong hành trình thương mại của các thương thuyền vùng Viễn Đông.Hội An cùng với chính sách “mở cửa” - trong tầm nhìn địa - chính trị, địa - kinh tế của các Chúa Nguyễn đã mở ra một thị trương tiêu thụ rộng lớn của khu vực đồng thời cũng là nơi cung cấp nguồn vật liệu hết sức dồi dào cho các nước. Các thương thuyền phương Tây liên tiếp đến giao thương. Christoforo Borri ghi nhận “trong khoảng hơn 100 dặm, người ta có thể đếm được trên 60 hải cảng, nơi cập bến lên bộ, trong đó Hội An là hải cảng đẹp nhất được tất cả ngoại kiều đến” và “người Trung Hoa và Nhật Bản là thương khách chủ yếu trong hội chợ năm nào cũng mở, kéo dài gần bốn tháng ở Hội An” (C.Borri - Xứ Đàng Trong năm 1621 - Nxb TP HCM 1998 tr.89-91).
Theo các nhà đô thị học - đường sá Hội An phát triển từ Bắc xuống Nam - đầu tiên là đường Nhật Bản (đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó là đường Quảng Đông (đường Nguyễn Thái Học) sau cùng mới đến đường bờ sông, người Pháp gọi là bến thuyền (Quai) tức đường Bạch Đằng hiện nay. Các kiến trúc cổ của Hội An phát triển từ Tây sang Đông, hướng về biển. Như vậy, đô thị thương cảng Hội An đã hình thành đồng thời với sự phát triển của kinh tế ngoại thương Đàng Trong vào khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, trong suốt thế kỷ XVII Hội An phát triển mạnh, phố phường sầm uất, nhà cửa san sát, tàu thuyền ra vào tấp nập, thực sự nhộn nhịp “trên bến dưới thuyền”
Thời kỳ Chăm pa : Tuy nhiên thời kỳ thịnh vượng đầu tiên của Hội An phải đến thế kỷ 9 và 10 dưới thời vương quốc Chăm Pa. Khi đó mảnh đất này có tên gọi là Lâm Ấp Phố. Các thương gia từ Ả Rập, Ba Tư. Trung Quốc kéo đến nơi đây để buôn bán và trao đổi vật phẩm. Tuy nhiên sau một số biến động của lịch sử thì cũng đến lúc thương cảng có những nốt trầm của thời kỳ suy thoái.
Thương cảng Hội An đã từng rất nhộn nhịp trong lịch sử
Thương cảng faifo : Chỉ đến thế kỷ 16 đến 19 thì yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa của mảnh đất này mới được phát hiện. Lúc này không chỉ có các thương gia phương Đông mà còn có nhiều người đến từ quốc gia xa xôi như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp…tới đây tụ họp, giao thương. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn còn nói rằng hàng hóa thời đó “không thứ gì là không có” thậm chí cần số lượng nhiều thì các thương gia vẫn đáp ứng được.
Số lượng thuyền vào thương cảng đông đến nỗi buồm của chúng được ví “như rừng tên xúm xít” (trích trong Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán).
Lúc đó Hội An nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại quốc tế bậc nhất cả nước và cả khu vực Đông Nam Á. Đây được xem là trung tâm điều phối các thương cảnh miền Trung. Đồng thời mảnh đất này còn trở thành trung tâm liên vùng kết nối với nhiều nước khác để tạo nên một hệ thống thương mại hoàn chỉnh nhất châu Á.
Ngày nay, thương cảng Hội An nổi tiếng một thời chỉ còn lại 2 km² phố cổ ở phường Minh An với những con đường ngang dọc giao nhau.
Những công trình kiến trúc còn lại nổi bật có chùa Cầu. Ngoài ra là hội quán của người Hoa như Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu. Còn có miếu thờ Quan Công, sát ngôi miếu này là Bảo làng Lịch sử Văn hóa Hội An (trước đây là chùa Quan Âm của dân làng Minh Hương).
Chùa Cầu phố cổ Hội An (Ảnh: Dalbera, Flickr, CC BY 1.0)
Phố cổ Hội An thời xưa thịnh vượng của Chúa Nguyễn.
Tại sao suy tàn?
Trong khí thế của một cao trào phản kháng đang lên, của một đội quân – đa dạng, đủ thành phần nhưng phần lớn xuất thân từ những nông dân, lục lâm, thảo khấu, hải tặc – lúc nào cũng hừng hực khí thế cướp bóc thì dù là một đội quân “cướp của người giàu chia cho người nghèo” không thể biện minh được.
Trong những năm 1773 – 1775, hành quân cướp bóc diệt chủng của Nguỵ Tây Sơn (bắt nguồn từ Bình Định) đã nhanh chóng lan đến Quảng Nam, trong suốt thời gian đó Quảng Nam là vùng đất tranh chiếm và giằng co quyết liệt giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn và sau này là với quân Trịnh (Đàng Ngoài).
Chính trong thời gian này, người ta chứng kiến được những cảnh cướp phá và vơ vét của những đội quân với tinh thần “cách mạng Tây Sơn”, tiếc thay sử liệu minh chứng cho những sự kiện này không phải xuất hiện từ phía nhà Nguyễn (vốn có tư tưởng thù địch với Tây Sơn, Nhà Nguyễn không viết về vấn đề này), mà từ chính các nhà truyền giáo, các thuyền buôn nước ngoài, những người trực tiếp chứng kiến cảnh tượng ấy!
Trong một bức thư viết khoảng tháng 7 năm 1775, Đức cha Halbout đã ghi nhận: “…Quân nổi loạn đã cướp bóc, cướp phá chẳng nương tay, đến nổi các tỉnh Cham cứ 20 người thì có 19 người chết vì bị đầy đọa khổ sở. Các giáo khu ở Hàn và Cầu Né đều không còn… Năm ngoái, ở Bầu Nghé từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch số giáo dân bị giết đến sáu trăm người… Ở một nơi khác cũng thời gian ấy, ít nhất có đến 1500 giáo dân bị giết. Suốt hai năm ròng gần như quanh tôi lúc nào cũng có người chết và hấp hối…”
Cảng thị Hội An nơi trước đây là một thương cảng sấm uất với “hàng trăm thuyền bè từ các của biển Trung Hoa và Nhật Bản đến mua đường, quế hồ tiêu…” nay trong mắt nhà buôn Chapman chỉ là một cảng thị điêu tàn, mà đến 10 năm sau chưa phục hồi lại được. Linh mục Labartette miêu tả ở Cửa Hàn (Đà Nẵng) không còn một con heo, gà, vịt, đường cát trước kia sản xuất rất nhiều nay biến mất, tiền mất giá một quan còn giá trị độ một đồng, tình trạng đói khổ ăn xin xuất hiện phổ biến trong xứ, tình trạng này còn ảnh hưởng đến cả các dòng họ tôn thất và quan quyền của triều Nguyễn trước đây.
Tình trạng diễn ra ở Quảng Nam không phải là cá biệt, trước đó khi chiếm Quy Nhơn năm 1773, và sau này là Quảng Ngãi quân Tây Sơn giặc cũng nhiều lần đốt phá dinh cơ. Nhưng tình cảnh ở Quảng Nam có vẻ thê thảm hơn hay chúng ta không có nhiều tư liệu cho thấy tình cảnh này ở các nơi khác? Không chỉ có các tài liệu phương Tây, hệ quả mà quân Tây Sơn gây ra đã khiến cho dân xứ Quảng Nam, như Lê Qúy Đôn ghi nhận: “…quá đỗi đói khổ cùng khốn, họ chỉ ngóng trong quân nhà vua đến giải cứu cho họ…”.
Nhìn vào hiện tượng này, ta thấy dường như những động cơ của một cuộc khởi nghĩa nông dân đã bị các hành động thái quá làm biến dạng thành một đám diệt chủng chẳng khác gì bọn Khmer Rouge hay Phát Xít
Ngược dòng lịch sử, năm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng – con thứ hai của Nguyễn Kim được vua Lê cho vào trấn thủ trấn Thuận Hóa theo kế sách “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhằm tránh thế lực nhà Trịnh. Năm 1570, Nguyễn Hoàng được nhà vua cho kiêm lãnh trấn Quảng Nam. Tháng 7 năm Nhâm Dần (1602), chúa Tiên Nguyễn Hoàng thành lập Dinh trấn Quảng Nam ban đầu tại xã Cần Húc ( Duy Xuyên) sau dời về Thanh Chiêm huyện Điện Bàn. Ba năm sau, Chúa cho tách huyện Điện Bàn lúc đó thuộc trấn Thuận Hóa ra khỏi Thuận Hóa, thăng làm phủ lãnh 5 huyện: Tân Phước, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh và Phú Châu. Cũng vào năm này, phủ Hoài Nhân được đổi thành phủ Quy Nhơn, cũng trực thuộc Quảng Nam Dinh.

Hình ảnh tàu thuyền tấp nập trên sông Hội An (Nguồn: "Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793)" của tác giả John Barraow, Nguyễn Thừa Hỷ dịch)
Nhà nghiên cứu Phan Khoang nói về sự ra đời của dinh Quảng Nam như sau: “…Sau khi ở Đông Đô về (1600), Đoan quận công dời Dinh sang phía đông dinh Ái Tử trước kia, bấy giờ gọi là Dinh Cát, rồi nhân nhận thấy trấn Quảng Nam đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế thu vào nhiều hơn đất Thuận Hóa mà số quân thì cung bằng quá nửa, nên có ý kinh doanh đất này. Hoằng Định năm thứ ba (1602) Chúa đi chơi núi Hải Vân, thấy núi non hiểm trở, phán rằng “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”, Chúa lại vượt qua núi xem xét hình thế , sai lập dinh ở xã Cần Húc (sau này là làng Vân Đông kề làng Thanh Chiêm - NV), xây kho tàng, chứa lương thực, rồi sai công tử thứ sáu là Nguyễn Phước Nguyên trấn giữ” (Phan Khoang - Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1777-Nxb Khai Trí, Sài Gòn 1967 tr.161).
Theo sách “Ô Châu cận lục” do Dương Văn An nhuận sắc (1553) thì trong số 66 xã của huyện Điện Bàn có ghi chép một số xã hiệu nằm ở phía Bắc làng Thanh Chiêm như Phong Hồ (nay là phường Điện Nam Bắc-thị xã Điện Bàn), phía đông làng Thanh Chiêm như Lai Nghi (nay thuộc phường Điện Nam Đông-thị xã Điện Bàn) và hai làng thuộc Hội An ngày nay như Hoài Phô, Cẩm Phô…” (Dương Văn An (nhuận sắc) - Ô Châu cận lục - NXB Giáo Dục, Hà Nội 2009 tr.38,39).
Hội An - người nước ngoài thường gọi là Faifo - trước đó từng là cửa biển lớn của Champa với cụm đảo Cù Lao Chàm (Tiêm Bất La) và Đại Chiêm hải khẩu. Đây là cửa ngõ miền Amatavati của vương quốc Champa không xa thánh địa Mỹ Sơn và các kinh đô Sinhapura (Trà Kiệu), Indrapura (Đồng Dương). Năm 1653, A.De Rhodes trong sách “Những cuộc hành trình và truyền giáo tại Trung Hoa và những vương quốc khác ở phương Đông” ghi bản đồ Đại Việt thì vùng Hội An được gọi là Hải Phố (Fayfo hay Faifo).
Như vậy việc lập Dinh trấn Quảng Nam hay Thanh Chiêm, người phương Tây thời đó gọi là Cac-ciam hay Dinh ciam-Dinh Chiêm, Kẻ Chiêm, Kẻ Chàm. Thanh Chiêm chỉ cách Hội An 6 dặm (hơn 8 km) rất thuận tiện cho việc kiểm soát xuất nhập khẩu hàng hóa và ngoại thương, cũng như tiện việc giao tiếp với thương nhân nước ngoài thời đó. Thanh Chiêm nằm ngay trên đường thiên lý Bắc Nam và ngoài thủy lộ chính Thu Bồn, Cổ Cò (Lộ Cảnh Giang), về sau (vào thời các vua Nguyễn) Thanh Chiêm còn nối với Touron (Tourance, Đà Nẵng) qua sông đào Vĩnh Điện
Dinh trấn Quảng Nam có vai trò hết sức quan trọng với sự thăng hoa của Hội An phố (Faifo) - nơi có Đại Chiêm hải khẩu - với chính sách ngoại thương thoáng mở của các chúa Nguyễn như chính sách “trú đông”, “lưu đông” hay cho thương nhân nước ngoài cư trú vô thời hạn, được dựng làng, lập phố có chế độ “tự quản riêng” như trường hợp “Phố Hoa”, “Phố Nhật” ở Hội An. Trong khoảng thời gian từ 1604 đến 1634, số thương thuyền Nhật đến Hội An hiếm tới một phần tư số thương thuyền Nhật cập bến các nước Đông Nam Á.
Hội An trở thành đô thị thương cảng sầm uất và thịnh vượng bắt đầu từ đầu thế kỷ XVII. Hội An không những là thương cảng quan trọng của Việt Nam mà còn là trung tâm buôn bán lớn của Đông Nam Á, một trạm dừng chân tiện lợi trong hành trình thương mại của các thương thuyền vùng Viễn Đông.Hội An cùng với chính sách “mở cửa” - trong tầm nhìn địa - chính trị, địa - kinh tế của các Chúa Nguyễn đã mở ra một thị trương tiêu thụ rộng lớn của khu vực đồng thời cũng là nơi cung cấp nguồn vật liệu hết sức dồi dào cho các nước. Các thương thuyền phương Tây liên tiếp đến giao thương. Christoforo Borri ghi nhận “trong khoảng hơn 100 dặm, người ta có thể đếm được trên 60 hải cảng, nơi cập bến lên bộ, trong đó Hội An là hải cảng đẹp nhất được tất cả ngoại kiều đến” và “người Trung Hoa và Nhật Bản là thương khách chủ yếu trong hội chợ năm nào cũng mở, kéo dài gần bốn tháng ở Hội An” (C.Borri - Xứ Đàng Trong năm 1621 - Nxb TP HCM 1998 tr.89-91).
Theo các nhà đô thị học - đường sá Hội An phát triển từ Bắc xuống Nam - đầu tiên là đường Nhật Bản (đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó là đường Quảng Đông (đường Nguyễn Thái Học) sau cùng mới đến đường bờ sông, người Pháp gọi là bến thuyền (Quai) tức đường Bạch Đằng hiện nay. Các kiến trúc cổ của Hội An phát triển từ Tây sang Đông, hướng về biển. Như vậy, đô thị thương cảng Hội An đã hình thành đồng thời với sự phát triển của kinh tế ngoại thương Đàng Trong vào khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, trong suốt thế kỷ XVII Hội An phát triển mạnh, phố phường sầm uất, nhà cửa san sát, tàu thuyền ra vào tấp nập, thực sự nhộn nhịp “trên bến dưới thuyền”
Thời kỳ Chăm pa : Tuy nhiên thời kỳ thịnh vượng đầu tiên của Hội An phải đến thế kỷ 9 và 10 dưới thời vương quốc Chăm Pa. Khi đó mảnh đất này có tên gọi là Lâm Ấp Phố. Các thương gia từ Ả Rập, Ba Tư. Trung Quốc kéo đến nơi đây để buôn bán và trao đổi vật phẩm. Tuy nhiên sau một số biến động của lịch sử thì cũng đến lúc thương cảng có những nốt trầm của thời kỳ suy thoái.

Thương cảng faifo : Chỉ đến thế kỷ 16 đến 19 thì yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa của mảnh đất này mới được phát hiện. Lúc này không chỉ có các thương gia phương Đông mà còn có nhiều người đến từ quốc gia xa xôi như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp…tới đây tụ họp, giao thương. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn còn nói rằng hàng hóa thời đó “không thứ gì là không có” thậm chí cần số lượng nhiều thì các thương gia vẫn đáp ứng được.
Số lượng thuyền vào thương cảng đông đến nỗi buồm của chúng được ví “như rừng tên xúm xít” (trích trong Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán).
Lúc đó Hội An nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại quốc tế bậc nhất cả nước và cả khu vực Đông Nam Á. Đây được xem là trung tâm điều phối các thương cảnh miền Trung. Đồng thời mảnh đất này còn trở thành trung tâm liên vùng kết nối với nhiều nước khác để tạo nên một hệ thống thương mại hoàn chỉnh nhất châu Á.

Ngày nay, thương cảng Hội An nổi tiếng một thời chỉ còn lại 2 km² phố cổ ở phường Minh An với những con đường ngang dọc giao nhau.
Những công trình kiến trúc còn lại nổi bật có chùa Cầu. Ngoài ra là hội quán của người Hoa như Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu. Còn có miếu thờ Quan Công, sát ngôi miếu này là Bảo làng Lịch sử Văn hóa Hội An (trước đây là chùa Quan Âm của dân làng Minh Hương).


Phố cổ Hội An thời xưa thịnh vượng của Chúa Nguyễn.
Tại sao suy tàn?
Trong khí thế của một cao trào phản kháng đang lên, của một đội quân – đa dạng, đủ thành phần nhưng phần lớn xuất thân từ những nông dân, lục lâm, thảo khấu, hải tặc – lúc nào cũng hừng hực khí thế cướp bóc thì dù là một đội quân “cướp của người giàu chia cho người nghèo” không thể biện minh được.
Trong những năm 1773 – 1775, hành quân cướp bóc diệt chủng của Nguỵ Tây Sơn (bắt nguồn từ Bình Định) đã nhanh chóng lan đến Quảng Nam, trong suốt thời gian đó Quảng Nam là vùng đất tranh chiếm và giằng co quyết liệt giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn và sau này là với quân Trịnh (Đàng Ngoài).
Chính trong thời gian này, người ta chứng kiến được những cảnh cướp phá và vơ vét của những đội quân với tinh thần “cách mạng Tây Sơn”, tiếc thay sử liệu minh chứng cho những sự kiện này không phải xuất hiện từ phía nhà Nguyễn (vốn có tư tưởng thù địch với Tây Sơn, Nhà Nguyễn không viết về vấn đề này), mà từ chính các nhà truyền giáo, các thuyền buôn nước ngoài, những người trực tiếp chứng kiến cảnh tượng ấy!
Trong một bức thư viết khoảng tháng 7 năm 1775, Đức cha Halbout đã ghi nhận: “…Quân nổi loạn đã cướp bóc, cướp phá chẳng nương tay, đến nổi các tỉnh Cham cứ 20 người thì có 19 người chết vì bị đầy đọa khổ sở. Các giáo khu ở Hàn và Cầu Né đều không còn… Năm ngoái, ở Bầu Nghé từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch số giáo dân bị giết đến sáu trăm người… Ở một nơi khác cũng thời gian ấy, ít nhất có đến 1500 giáo dân bị giết. Suốt hai năm ròng gần như quanh tôi lúc nào cũng có người chết và hấp hối…”
Cảng thị Hội An nơi trước đây là một thương cảng sấm uất với “hàng trăm thuyền bè từ các của biển Trung Hoa và Nhật Bản đến mua đường, quế hồ tiêu…” nay trong mắt nhà buôn Chapman chỉ là một cảng thị điêu tàn, mà đến 10 năm sau chưa phục hồi lại được. Linh mục Labartette miêu tả ở Cửa Hàn (Đà Nẵng) không còn một con heo, gà, vịt, đường cát trước kia sản xuất rất nhiều nay biến mất, tiền mất giá một quan còn giá trị độ một đồng, tình trạng đói khổ ăn xin xuất hiện phổ biến trong xứ, tình trạng này còn ảnh hưởng đến cả các dòng họ tôn thất và quan quyền của triều Nguyễn trước đây.

Tình trạng diễn ra ở Quảng Nam không phải là cá biệt, trước đó khi chiếm Quy Nhơn năm 1773, và sau này là Quảng Ngãi quân Tây Sơn giặc cũng nhiều lần đốt phá dinh cơ. Nhưng tình cảnh ở Quảng Nam có vẻ thê thảm hơn hay chúng ta không có nhiều tư liệu cho thấy tình cảnh này ở các nơi khác? Không chỉ có các tài liệu phương Tây, hệ quả mà quân Tây Sơn gây ra đã khiến cho dân xứ Quảng Nam, như Lê Qúy Đôn ghi nhận: “…quá đỗi đói khổ cùng khốn, họ chỉ ngóng trong quân nhà vua đến giải cứu cho họ…”.
Nhìn vào hiện tượng này, ta thấy dường như những động cơ của một cuộc khởi nghĩa nông dân đã bị các hành động thái quá làm biến dạng thành một đám diệt chủng chẳng khác gì bọn Khmer Rouge hay Phát Xít