Người Kinh là ai, các "Vua Hùng" phải là ai?
Bằng cách khoan sâu nhiều kilomet vào các khối băng ở hai cực, người ta tìm thấy các lớp nước đóng băng, lớp này đè lên lớp kia, trong hàng triệu năm về trước. Từ độ dày mỏng và lượng khí CO2 bị giam cầm ở các lớp băng này mà người ta đã khôi phục được đồ thị mực nước biển theo thời gian. Theo đó mực nước biển thấp nhất là vào các thời điểm 140 nghìn năm, 80 nghìn năm, và 20 nghìn năm về trước.
Phân tích cấu trúc biến dị và di truyền của Gen trong ADN, người ta có thể xác định được cây gia phả. Dựa trên bản đồ Gen cư dân trên thế giới người ta biết được loài người văn minh có tổ tiên ở Châu Phi, tức họ đã di cư ra khỏi lục địa này khi mực nước biển xuống thấp.
Dựa vào việc phân tích các đặc điểm và sự tương quan ngôn ngữ người ta đã xây dựng cây tiến hóa ngôn ngữ các dân tộc. Cây ngôn ngữ này có gốc ở châu Phi. Tiếng nói chỉ có thể xuất hiện khi khả năng vận động của lưỡi vượt ra ngoài nhu cầu dùng để ăn như ở động vật. Con chó có thể hiểu hàng trăm từ chủ nói nhưng không thể nói bất kỳ từ nào trong số chúng, bởi vì để nói đòi hỏi phải một bó dây thần kinh lớn đến lưỡi, và điều đó đòi hỏi một lỗ lớn trong hộp sọ để chúng đi qua. Khảo cổ cho thấy chỉ có con người có điều đó, và cái lỗ to đến thế thì chỉ mới xuất hiện khoảng 150 nghìn năm trước đây.
Vào thời kỳ băng giá nước đóng băng ở hai cực Trái Đất nhiều tới mức mực nước biển thấp hơn tới 130m. Khi mực nước biển thấp thì cũng đồng nghĩa với mưa ít và hạn hán toàn cầu mà Châu Phi là nơi chịu tác động nặng nề. Người ta cho rằng loài người cổ đại đã tìm cách di cư khỏi Châu lục này vì không còn cái ăn và họ chỉ có thể di cư được ra khỏi châu Phi vào hai thời điểm 140 nghìn năm về trước hay 80 nghìn năm về trước, không thể sớm hơn bởi vì khi di cư ra khỏi châu Phi thì loài người đã có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ và cấu trúc tư duy là một, sự tương đồng về cấu trúc tư duy và cách quan niệm về linh hồn cùng văn hóa cho thấy ngôn ngữ đã xuất hiện từ rất lâu trước khi loài người di cư ra khỏi châu Phi. Vậy loài người văn minh đã di cư ra khỏi châu Phi vào khoảng 80 nghìn năm về trước.
Dựa vào phân bố theo thời gian của các di chỉ từ 7000 năm về trước ở phía Nam sông Trường Giang của Trung Quốc, chúng ta có thể ước lượng được tốc độ di cư tự nhiên là vào khoảng 300km cho 1000 năm. Tất nhiên do mức độ văn minh và việc chưa có vật nuôi đã được đồng hóa mà tốc độ di cư của người cổ đại chậm hơn nhiều.
Về mặt nguyên tắc, sau khi ra khỏi Châu Phi ở vùng Tiểu Á loài người đã di chuyển theo hai hướng, hướng thứ nhất lên vùng biển Địa Trung hải và di tiếp phía bắc cao nguyên Tây Tạng, hướng thứ hai về phía nam cao nguyên Tây Tạng và dọc theo bờ biển Ấn Độ dương về tới Đông Nam Á và tới châu Úc. Do độ dài quãng đường di cư tới đồng bằng Bắc Bộ theo hướng phía Nam cao nguyên Tây Tạng ngắn hơn rất nhiều so với tổng quãng đường di cư tự nhiên theo hướng phía bắc cao nguyên Tây Tạng đi xuống, mà người Việt cổ đại là thuộc dòng người di cư tự nhiên từ vùng sừng châu Phi theo hướng nam cao nguyên Tây Tạng.
Do loài người cần muối và nước ngọt vì thế vệt đường di cư phải phụ thuộc vào hai yếu tố này. Như thế vệt di cư theo con đường phía bắc cao nguyên Tây Tạng có lẽ đã bắt đầu muộn hơn nhiều do phải chủ động nguồn muối, và điều ấy chỉ có thể có được khi súc vật được thần hóa thành công cụ mang vác.
Thời điểm đồng hóa được gia súc như sau:
Lạc đà 4000 ÷ 1400 TCN
Ngựa 4000 TCN
Cừu 9000 ÷ 11000 TCN
Dê 8000 TCN
Lợn 7000 TCN
Bò 6000 TCN
Trâu 4000 TCN
Như vậy việc khẳng định văn minh được di chuyển từ phía Bắc Trung Quốc nơi hạ lưu con sông Hoàng Hà xuống phía Đông Nam Á là không chính xác. Người cổ đại đã định cư ở vùng này khoảng 10 nghìn năm trước khi có sự di cư tự nhiên cư dân từ phía Bắc tới.
Để có được sự mường tượng chung về văn minh loài người chúng ta lưu ý "thành phố cổ đầu tiên được người di cư xây dựng là Göbekli Tepe ở phía cực Nam của của Turkey. Tuổi của thành phố này là khoảng 10 nghìn năm trước Công Nguyên".
20 nghìn năm về trước mực nước biển thấp hơn hiện nay 120m. Khi ấy Vịnh Hạ Long là đồng bằng có cấu trúc Gò Đống nước tự chảy quanh. Mực nước biển bắt đầu dâng cao dần cư dân cổ chạy lên vùng cao hơn. Người chạy lên đồng bằng sông Qinzhou là cư dân Bách Việt, còn chạy lên vùng Bắc Bộ nay là cư dân Việt cổ. Do có sự tương đồng về điều kiện thiên nhiên mà văn hóa của người Việt là thừa hưởng của văn hóa Hạ Long mang đặc điểm của "văn hóa Nước" -- khí hậu ấm áp và di chuyển bằng thuyền; và do không có sự tương đồng về điều kiện thiên nhiên mà văn hoa của Bách Việt là một nền văn hóa khác -- "văn hóa Cạn", đặc trưng cho vùng ôn đới và di chuyển bằng đường bộ.
Cho tới khoảng 10 nghìn năm về trước thì mực nước biển chỉ còn thấp hơn hiện nay 35m, đồng bằng Hạ Long chìm sâu dưới mực nước biển, nhưng đồng Bằng Bắc bộ như chúng ta biết ngày nay thì vẫn còn khô ráo và là rừng rậm nhiệt đới nguyên thủy cây cối cao lớn. Mực nước tiếp tục dâng trong vòng 4000 năm tiếp theo, và khoảng 6000 nghìn năm trước đây thì nước biển dâng tới Phú Thọ, nhấn chìm đồng bằng Bắc Bộ khi ấy xuống độ sâu trung bình khoảng 15m dưới mực nước biển. Trong suốt 6000 năm qua phù sa sông Hồng bồi đắp vịnh này thành ra đồng bằng Bắc Bộ ngày nay, đè lên đồng Bằng bắc Bộ cũ ở độ sâu tới khoảng 25m tinh từ mặt đất.
Theo dõi bản đồ khảo cổ của Trung Quốc chúng ta cũng thấy ngay vệt di chỉ 7000 năm tuổi 38,40,41,42,43,44,45,47 di cư từ biển vào, cùng đồng dạng với di chỉ Cái Bèo.
Như vậy cư dân đồng bằng Sông Hồng trước thời kỳ 6000 năm lịch sử biển tiến thì có một thời kỳ 4000 năm "lịch sử" biển lùi, cứ mỗi năm 50m bờ biển tiến sâu vào đất liền. Thời kỳ ấy chúng ta gọi là thời kỳ văn minh Tiền Sông Hồng.
Theo như di tích khảo cổ Cái Bèo thì 7000 năm về trước cư dân sông Hồng bước vào thời kỳ đồ Đá, tức là họ chưa có dụng cụ kim loại. Với rừng rậm nguyên sinh cây to bán kính vài mét ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, với công cụ đồ đá thô sơ thì việc chặt phá đốt rừng làm ruộng là rất khó, nhất là biển cứ tiến 50m một năm. Do cần muối và thức ăn và do việc di chuyển trong rừng nhiệt đới rất khó mà vệt dân cư sống trên cạn khi ấy chắc chỉ vào khoảng 20km dọc theo bờ biển. Nước cứ tiếp tục dâng và với khả năng di chuyển bằng thuyền sẵn có khi còn là cư dân đồng bằng Hạ Long mà có lẽ cư dân Sông Hồng khi ấy sống chủ yếu trên các bè mảng, hệt như dân cư làng chài Cái Bèo. Họ trú ngụ tránh bão ở những vùng vịnh nơi có thể lấy nước ngọt. Họ lập miếu thờ ở những chỗ này, có thể lúc đầu chỉ với mục đich đánh dấu.
Như thế làng chài vịnh Hạ Long có thể là di tích "hoá thạch" sống của nền văn minh Tiền Sông Hồng xưa từ 10 nghìn năm về trước. Và những vùng như Tràng An thuộc Ninh Bình ngày nay, các vùng núi Hà Nam, Hoà Bình, Quảng Ninh là những nơi cư trú của người Việt Cổ nhiều nghìn năm về trước.
Nền văn minh Tiền Sông Hồng kéo dài 4000 năm trong điều kiện biển tiến. Vào thời kỳ 10 nghìn tới 7 nghìn năm về trước, nếu ước tính mật độ dân số bằng một nửa khi biển lùi thì dân cư khoảng 100 nghìn người. Xã hội phân chia thành hai phần, phần định cư trên cạn và phần ở trên các bè mảng trong vùng vịnh. Phương thức sản xuất chủ yếu là đánh bắt cá, làm muối, khai thác gỗ làm thuyền bè và trồng trọt trên các gò đồi cao.
Khoảng 6000 năm vừa qua mực nước biển giữ nguyên, tuy nhiên sông Hồng mang phù sa ra bồi và tạo ra đồng bằng Bắc Bộ ngày nay, đẩy bờ biển lùi ra xa khoảng 30km cho 1000 năm. Ngay sau khi nước biển ngừng dâng người Việt cổ quay lại vùng đất xưa của họ, tất nhiên nay đã được bồi lên một lớp phù sa mới. Họ là dân tộc Kinh. Những người Việt Cổ ở lại vùng cao là người Mường, họ được coi như những người Kinh di cư và, theo đúng quy luật, người di cư giữ lại được nhiều nét văn hóa Việt cổ hơn người Kinh. Vậy các loại "Vua Hùng" đã có công dựng nước cần phải được tìm hiểu ra từ văn hóa cổ còn được lưu truyền gần như trọn vẹn ở dân tộc này.
Vậy chính văn hóa Mường là hóa thạch sống văn hóa Việt Cổ từ 5000 năm về trước của nền văn minh sông Hồng trước thời kỳ biển lùi. Trong khi suốt thời gian 6000 năm qua, khi biển lùi, người Kinh đã quay trở lại làm chủ vùng đất đồng bằng sông Hồng xưa của mình, với văn hóa bị ảnh hưởng của cấu trúc Gò Đống nước tự chảy, gần giống như văn hóa như thời kỳ đồng bằng Hạ Long.
Đồng bằng Bắc Bộ là một tam giác Cân mà đỉnh là Phú Thọ. Chạy dài và tạo ra hai cạnh bên của tam giác đồng bằng Bắc Bộ là các dãy núi cao hàng nghìn mét với rừng rậm cây leo chằng chịt và rộng hàng trăm km đầy rãy trăn rắn và thú dữ ăn thịt, khiến cho tới tận đầu Công Nguyên hầu như không một ai có thể vượt qua. Sự giao tiếp văn minh chỉ có thể qua đường biển.
Theo như nghiên cứu của Mai Thanh Sơn thì mãi đến đầu thế kỷ 18 thì người H'Mong mới đến định cư ở Việt Nam. Các dân tộc khác như Thái-Tráng từng sinh sống ở vùng Sơn Đông (山東). Với khoảng cách 2000km quá trình di cư tự nhiên tới được đồng bằng Bắc Bộ mất khoảng 700 năm. Như vậy người Thái cũng như Tày di cư tự nhiên tới được vùng núi Việt Nam sớm nhất là đầu Công Nguyên. Theo nghiên cứu của các nhà chuyên môn cho biết thì nguyên nhân khiến cho các dân tộc Thái, Tày, Nùng phải di cư là do người Hán xâm chiếm đất nước của họ. Trên thực tế người Thái di cư tới vùng núi phía Tây Bắc Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên. Khi ấy đồng bằng Bắc bộ đã gần như hiện nay.
Như vậy không hề có một cuộc di dân lớn nào tới để hình thành ra người Việt ở Việt Nam. Người Việt đã liên tục ở mảnh đất này 10 nghìn năm qua.
Do cấu trúc Gò Đống nước tự chảy quanh mà giao thông ở vùng này chủ yếu bằng đường thủy. Rất thuận lợi cho việc phòng thủ. Tuy nhiên Gò Đống thường nhỏ, với phương thức sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp thì ở không thể sinh sống mật độ cao. Cũng chính vì vậy mà ở vùng đất này không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ.
Như vậy cư dân Việt Cổ, tức người Kinh là tổ tiên của nền văn minh Sông Hồng. Người Kinh đã ở vùng đất này liên tục từ hơn 10 nghìn năm qua. Cư dân Việt cổ, và cả nền văn minh Sông Hồng ngày nay, kế thừa hoàn toàn văn hóa Hạ Long xưa. Do được thiên nhiên ưu ái mà dân số ở đồng bằng Sông Hồng vào đầu Công Nguyên đã lên tới 750 nghìn người. Các dòng người di cư nhỏ lẻ thuộc Bách Việt theo đường biển vẫn có thể tới nhưng bị đồng hóa hoàn toàn về văn hóa thành người Kinh, vừa do số lượng người ít, vừa là hệ lụy của quá trình hôn phối tự nhiên, và cũng là bởi có cùng văn hóa gốc do cùng xuất phát từ đồng bằng Hạ Long. Nhiều triều đại Vua chúa Việt nam có nguồn gốc từ Phương Bắc thuộc Bách Việt, nhưng không có nghĩa là nền văn minh Sông Hồng di cư từ nơi khác đến, và cũng không có nghĩa các dòng người di cư này không thuộc dân tộc Việt Nam. Nền văn minh Sông Hồng chỉ là các dòng người di cư vào các thời điểm khác nhau, những người di cư từ 10000 năm về trước và những người di cư từ 1000 năm ngần đây đều là từ một cộng đồng dân cư có độ đồng nhất về văn hóa và nhân chủng học.
Nền văn minh Sông Hồng có quyền nói về tuổi văn hóa 10 nghìn năm, nhưng Hán thì không. Dân tộc Hán chỉ là một khái niệm, là một sự cưỡng hợp các dân tộc khác nhau. Không có dân tộc Hán, không có văn hóa Hán vậy nên không có khái niệm Hán hóa. Hán chỉ là một sự cưỡng chiếm và cưỡng bức đổi tên gọi dân tộc.