
-Hôm qua, thằng Lỗ đít gợi tình có lập thớt về kinh tế, tài chính VN trước ngưỡng khủng hoảng hiện nay và gợi ý cho tao viết về giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2012. Để cùng nhìn lại quá khứ, rút ra bài học cho tương lai, hạn chế rủi ro, tránh trường hợp phải về quê nuôi cá và trồng thêm rau để mưu sinh. Tao ko phải dân kinh tế, chắc bài viết có nhiều thiết sót, anh em chém nhẹ tay.
-Nếu sống đủ 1 đời người ko ốm đau, bệnh tật, tai nạn, chết trẻ thì bất cứ ai cũng sẽ đc chứng kiến sự kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu ít nhất 1 lần. Tính từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay, thế giới đã có 4 cuộc khủng khoảng kinh tế...
I-Cuộc đại suy thoái 1929-1933
-Đây được xem là cuôc khủng hoảng tài chính kinh tế tồi tệ nhất của thế kỷ 20. Nhiều người cho rằng sự sụp đổ ở thị trường chứng khoán phố Wall 1929 là nguồn gốc khủng hoảng và những quyết định chính sách sai lầm chính phủ Mỹ càng làm cho nó thêm nghiêm trọng. Cuộc suy thoái kéo dài gần 1 thập niên đã ghi nhận mức thua lỗ khổng lồ, tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục cùng với việc sản xuất lao dốc, đặc biệt ở những nước công nghiệp hóa. Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ chạm tới mức đỉnh 25% vào năm 1933.
II-Cú sốc dầu mỏ của OPEC 1973
-Cuộc khủng hoảng này bắt đầu khi các thành viên OPEC (chủ yếu bao gồm các quốc gia thuộc các tiểu vương quốc Arap) quyết định trả đũa Hoa Kỳ, để đáp trả việc cung cấp vũ khí cho Israel trong cuộc chiến tranh Arap - Israel.
-Các nước OPEC tuyên bố cấm vận dầu mỏ, đột ngột dừng xuất khẩu dầu sang Mỹ và các nước đồng minh. Điều này gây ra sự thiếu hụt lớn và giá dầu tăng đột biến. Dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và các nước phát triển khác với mức lạm phát rất cao.
III-Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997
-Khủng hoảng xảy ra ở Thái Lan năm 1997 và lan rộng đến các nước Đông Á. Dòng vốn đầu cơ từ các nước phát triển đổ vào các quốc gia Đông Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hong Kong và Hàn Quốc.
-Dòng vốn khổng lồ tạo ra tín dụng phóng khoáng, tích lũy nợ ở những nền kinh tế này. Vào tháng 7/1997, chính phủ Thái Lan đã xóa bỏ tỷ giá hối đoái cố định với đồng dollar vốn đã tồn tại quá lâu, dẫn đến thiếu ngoại tệ trong thị trường.
-Thị trường tài chính châu Á trở nên hỗn loạn, nhanh chóng kéo theo hàng triệu USD đầu tư nước ngoài ồ ạt rút đi. Hiệu ứng lan tỏa khiến cho các nhà đầu tư lo sợ sự sụp đổ thị trường Đông Á có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFM) đã phải vào cuộc bằng việc đưa ra gói hỗ trợ cho những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất - nhằm tránh việc vỡ nợ xảy ra.
IV-Khủng hoảng tài chính 2008
-Bắt nguồn khi bong bóng nhà đất ở Mỹ sụp đổ, cuộc khủng hoảng đã khiến cho Ngân hàng Lehman Brothers (một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới) phá sản, kéo theo hàng loạt những doanh nghiệp và thể chế tài chính chủ chốt đến trên bờ vực sụp đổ.
-Chính phủ lúc đó đã phải đưa ra khoảng cứu trợ lớn chưa từng có. Sau gần một thập niên, khi mà hàng triệu việc làm và hàng tỷ USD lợi nhuận bốc hơi, thị trường mới có dấu hiệu phục hồi.
--> Ta cùng đi sâu vào cuộc khủng hoảng mới nhất này.
Nguyên nhân
-Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 (GFC) bắt nguồn từ sự khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính, bao gồm bảo hiểm, tín dụng, chứng khoán, diễn ra từ năm 2007 cho tới năm 2008, khởi nguồn từ Mỹ.
-Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 được cho rằng là liên quan tới việc các tổ chức tài chính trong thị trường bất động sản tại Mỹ khi họ bắt đầu đưa ra các khoản vay thế chấp mạo hiểm nhằm giải cứu người mua bất động sản. Hình thức vay thế chấp nhắm vào những người mua nhà có thu nhập thấp, rủi ro cho vay rất cao cùng với sự bùng nổ bong bóng nhà đất tại Hoa Kỳ.
-Yếu tố chủ chốt gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 chính là do sự phát triển nhanh chóng của các sản phẩm tài chính kiểu săn mồi, nhằm vào những đối tượng người mua nhà có thu nhập thấp, kém hiểu biết, ít thông tin. Đứng đầu những tổ chức cho vay tài chính đó phải kể đến ngân hàng Lehman Brothers – sự sụp đổ của ngân hàng này đánh dấu cho sự bắt đầu của cuộc khủng hoảng.
-Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, chính phủ Hoa Kỳ đã triển khai các khoản cứu trợ đối với các tổ chức tài chính cũng như áp dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu.
Tác động của khủng hoảng
Những giải pháp và chính sách tài khóa đó đã quá muộn, cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 lan rộng ra các nước trên thế giới, đặc biệt là Liên minh Châu Âu như Đức, Anh, Pháp cũng như các quốc gia khác. Cuộc khủng hoảng này đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu với hơn 10.000 tỷ USD đã bị cuốn trôi, hơn 30 triệu người thất nghiệp, gia tăng tỉ lệ vô gia cư và tự tử.
Ngoài ra, còn rất nhiều những tác động tiêu cực do cuộc khủng khoảng này gây ra như:
+Bear Stearns – một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất tại phố Wall đã lên tiếng cầu cứu và được JPMorgan Chase mua lại với giá 30 tỷ USD.
+Ngân hàng Lehnam Brothers tuyên bố phá sản – đây là ngân hàng đầu tư được thành lập từ năm 1844. Sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư hơn 160 năm của Mỹ là dấu hiệu cho việc bán tháo lớn nhất trong lịch sử tài chính Mỹ.
+Thị trường chứng khoán tại Hong Kong và Thượng Hải sụt giảm xuống mức 4,5 – 5,4%. Gía trị tài sản của một quỹ thị trường tiền tệ giảm dưới 1 USD/Cổ phiếu. Hơn 140 tỷ USD rút khỏi quỹ bởi các nhà đầu tư Mỹ.
Sức ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế 2008 đến các quốc gia trên thế giới
-Cú sốc tài chính diễn ra từ năm 2008 tại Hoa Kỳ đã gây cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu. 10 năm sau, Indonesia vẫn đang phải vật lộn với hậu quả của cuộc khủng hoảng này. Rất nhiều nhà đầu tư của Indonesia đã mất hàng triệu USD vào các ngân hàng Hoa Kỳ.
-Cuộc khủng hoảng này làm cho nền kinh tế toàn cầu thất thoát 4.500 tỷ USD vào năm 2009. Các quốc gia khác đã mất một thời gian dài sau đó mới có thể khôi phục lại hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình và thậm chí có nhiều lĩnh vực không thể nào phục hồi được. Sau đúng 10 năm, thế giới lại đang phải đối mặt với những mầm mống có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng mới.
-Giá nhà ở tăng cao tại Hoa Kỳ đang tạo áp lực đối với các ngân hàng và rất dễ xảy ra tình trạng tăng trưởng nóng. Trong 3 tháng đầu năm 2018, giá nhà ở tại nước này đã tăng 7% so với cùng kỳ năm 2017.
-Frank Nothaft - chuyên gia kinh tế của CoreLogic cho biết: “Nhu cầu cao và nguồn cung hạn chế đã đẩy giá nhà vượt qua mức tăng kỷ lục được ghi nhận vào năm 2006. Hoạt động xây dựng nhà mới vẫn diễn ra chậm chạp, nguồn cung thiếu hụt tiếp tục tạo áp lực lên giá bán”. Việc giá nhà ở bị đẩy lên cao sẽ ảnh hưởng nặng nề đến mức thu nhập cũng như đời sống của người dân, từ đó kéo theo những hệ quả xấu đối với nền kinh tế.
-Ngày 19/9/2008, Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra kế hoạch cứu trợ cả gói trị giá 700 tỷ USD để mua lại các khoản vay thế chấp có tính thanh khoản yếu và các tài sản khác liên quan đến nợ xấu của ngân hàng, tập đoàn tài chính. Tuy nhiên, khi khoản trợ cấp này chưa được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua, các chỉ số chứng khoán chủ đạo của Hoa Kỳ đã sụt giảm mạnh nhất kể từ năm 1987, thậm chí, chỉ trong một ngày, bị "bốc hơi" tới 1.100 tỷ USD.
-Đối với Indonesia, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 - 2009 rất nặng nề, với những ảnh hưởng có thể coi là lớn nhất trong số các nước Đông Nam Á. Tốc độ tăng trưởng GDP của nước này đã hạ từ mức 6,1% năm 2008 xuống còn 4,5% vào năm 2009. Thái Lan và Malaysia với mức tăng trưởng tương ứng là 2,3% và 1,5% vào năm 2009.
Ngay từ khi bắt đầu khủng hoảng tiền tệ, thị trường cổ phiếu của Indonesia cũng như các nước Đông Nam Á sa sút, chính phủ các nước cũng tuyên bố hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009. Việc thắt chặt tiền tệ và nhu cầu toàn cầu giảm sút làm giảm lòng tin của nhà tiêu dùng và nhà đầu tư, điều này gây ảnh hưởng bất lợi đối với ngành chế tạo và xuất khẩu của khu vực.
Đối với Singapore, ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ toàn cầu đối với ngành du lịch nước này khá rõ rệt. Tháng 9/2008, khách du lịch đến Singapore giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2008 và tình trạng giảm sút này còn kéo dài đến hết năm 2009 cũng như năm 2010.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động đến 5 ngành lớn của Philipines. Cụ thể, lao động Philipines tại nước ngoài bị mất việc làm buộc phải quay về nước, ngành dịch vụ bao gồm bất động sản gặp khó khăn, các ngành điện tử, viện trợ nước ngoài, xuất khẩu nông sản giảm sút từ đó đã tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.

-Nếu sống đủ 1 đời người ko ốm đau, bệnh tật, tai nạn, chết trẻ thì bất cứ ai cũng sẽ đc chứng kiến sự kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu ít nhất 1 lần. Tính từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay, thế giới đã có 4 cuộc khủng khoảng kinh tế...
I-Cuộc đại suy thoái 1929-1933
-Đây được xem là cuôc khủng hoảng tài chính kinh tế tồi tệ nhất của thế kỷ 20. Nhiều người cho rằng sự sụp đổ ở thị trường chứng khoán phố Wall 1929 là nguồn gốc khủng hoảng và những quyết định chính sách sai lầm chính phủ Mỹ càng làm cho nó thêm nghiêm trọng. Cuộc suy thoái kéo dài gần 1 thập niên đã ghi nhận mức thua lỗ khổng lồ, tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục cùng với việc sản xuất lao dốc, đặc biệt ở những nước công nghiệp hóa. Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ chạm tới mức đỉnh 25% vào năm 1933.
II-Cú sốc dầu mỏ của OPEC 1973
-Cuộc khủng hoảng này bắt đầu khi các thành viên OPEC (chủ yếu bao gồm các quốc gia thuộc các tiểu vương quốc Arap) quyết định trả đũa Hoa Kỳ, để đáp trả việc cung cấp vũ khí cho Israel trong cuộc chiến tranh Arap - Israel.
-Các nước OPEC tuyên bố cấm vận dầu mỏ, đột ngột dừng xuất khẩu dầu sang Mỹ và các nước đồng minh. Điều này gây ra sự thiếu hụt lớn và giá dầu tăng đột biến. Dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và các nước phát triển khác với mức lạm phát rất cao.
III-Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997
-Khủng hoảng xảy ra ở Thái Lan năm 1997 và lan rộng đến các nước Đông Á. Dòng vốn đầu cơ từ các nước phát triển đổ vào các quốc gia Đông Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hong Kong và Hàn Quốc.
-Dòng vốn khổng lồ tạo ra tín dụng phóng khoáng, tích lũy nợ ở những nền kinh tế này. Vào tháng 7/1997, chính phủ Thái Lan đã xóa bỏ tỷ giá hối đoái cố định với đồng dollar vốn đã tồn tại quá lâu, dẫn đến thiếu ngoại tệ trong thị trường.
-Thị trường tài chính châu Á trở nên hỗn loạn, nhanh chóng kéo theo hàng triệu USD đầu tư nước ngoài ồ ạt rút đi. Hiệu ứng lan tỏa khiến cho các nhà đầu tư lo sợ sự sụp đổ thị trường Đông Á có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFM) đã phải vào cuộc bằng việc đưa ra gói hỗ trợ cho những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất - nhằm tránh việc vỡ nợ xảy ra.

IV-Khủng hoảng tài chính 2008
-Bắt nguồn khi bong bóng nhà đất ở Mỹ sụp đổ, cuộc khủng hoảng đã khiến cho Ngân hàng Lehman Brothers (một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới) phá sản, kéo theo hàng loạt những doanh nghiệp và thể chế tài chính chủ chốt đến trên bờ vực sụp đổ.
-Chính phủ lúc đó đã phải đưa ra khoảng cứu trợ lớn chưa từng có. Sau gần một thập niên, khi mà hàng triệu việc làm và hàng tỷ USD lợi nhuận bốc hơi, thị trường mới có dấu hiệu phục hồi.
--> Ta cùng đi sâu vào cuộc khủng hoảng mới nhất này.
Nguyên nhân
-Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 (GFC) bắt nguồn từ sự khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính, bao gồm bảo hiểm, tín dụng, chứng khoán, diễn ra từ năm 2007 cho tới năm 2008, khởi nguồn từ Mỹ.
-Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 được cho rằng là liên quan tới việc các tổ chức tài chính trong thị trường bất động sản tại Mỹ khi họ bắt đầu đưa ra các khoản vay thế chấp mạo hiểm nhằm giải cứu người mua bất động sản. Hình thức vay thế chấp nhắm vào những người mua nhà có thu nhập thấp, rủi ro cho vay rất cao cùng với sự bùng nổ bong bóng nhà đất tại Hoa Kỳ.
-Yếu tố chủ chốt gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 chính là do sự phát triển nhanh chóng của các sản phẩm tài chính kiểu săn mồi, nhằm vào những đối tượng người mua nhà có thu nhập thấp, kém hiểu biết, ít thông tin. Đứng đầu những tổ chức cho vay tài chính đó phải kể đến ngân hàng Lehman Brothers – sự sụp đổ của ngân hàng này đánh dấu cho sự bắt đầu của cuộc khủng hoảng.
-Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, chính phủ Hoa Kỳ đã triển khai các khoản cứu trợ đối với các tổ chức tài chính cũng như áp dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu.
Tác động của khủng hoảng
Những giải pháp và chính sách tài khóa đó đã quá muộn, cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 lan rộng ra các nước trên thế giới, đặc biệt là Liên minh Châu Âu như Đức, Anh, Pháp cũng như các quốc gia khác. Cuộc khủng hoảng này đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu với hơn 10.000 tỷ USD đã bị cuốn trôi, hơn 30 triệu người thất nghiệp, gia tăng tỉ lệ vô gia cư và tự tử.
Ngoài ra, còn rất nhiều những tác động tiêu cực do cuộc khủng khoảng này gây ra như:
+Bear Stearns – một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất tại phố Wall đã lên tiếng cầu cứu và được JPMorgan Chase mua lại với giá 30 tỷ USD.
+Ngân hàng Lehnam Brothers tuyên bố phá sản – đây là ngân hàng đầu tư được thành lập từ năm 1844. Sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư hơn 160 năm của Mỹ là dấu hiệu cho việc bán tháo lớn nhất trong lịch sử tài chính Mỹ.
+Thị trường chứng khoán tại Hong Kong và Thượng Hải sụt giảm xuống mức 4,5 – 5,4%. Gía trị tài sản của một quỹ thị trường tiền tệ giảm dưới 1 USD/Cổ phiếu. Hơn 140 tỷ USD rút khỏi quỹ bởi các nhà đầu tư Mỹ.
Sức ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế 2008 đến các quốc gia trên thế giới
-Cú sốc tài chính diễn ra từ năm 2008 tại Hoa Kỳ đã gây cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu. 10 năm sau, Indonesia vẫn đang phải vật lộn với hậu quả của cuộc khủng hoảng này. Rất nhiều nhà đầu tư của Indonesia đã mất hàng triệu USD vào các ngân hàng Hoa Kỳ.
-Cuộc khủng hoảng này làm cho nền kinh tế toàn cầu thất thoát 4.500 tỷ USD vào năm 2009. Các quốc gia khác đã mất một thời gian dài sau đó mới có thể khôi phục lại hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình và thậm chí có nhiều lĩnh vực không thể nào phục hồi được. Sau đúng 10 năm, thế giới lại đang phải đối mặt với những mầm mống có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng mới.
-Giá nhà ở tăng cao tại Hoa Kỳ đang tạo áp lực đối với các ngân hàng và rất dễ xảy ra tình trạng tăng trưởng nóng. Trong 3 tháng đầu năm 2018, giá nhà ở tại nước này đã tăng 7% so với cùng kỳ năm 2017.
-Frank Nothaft - chuyên gia kinh tế của CoreLogic cho biết: “Nhu cầu cao và nguồn cung hạn chế đã đẩy giá nhà vượt qua mức tăng kỷ lục được ghi nhận vào năm 2006. Hoạt động xây dựng nhà mới vẫn diễn ra chậm chạp, nguồn cung thiếu hụt tiếp tục tạo áp lực lên giá bán”. Việc giá nhà ở bị đẩy lên cao sẽ ảnh hưởng nặng nề đến mức thu nhập cũng như đời sống của người dân, từ đó kéo theo những hệ quả xấu đối với nền kinh tế.
-Ngày 19/9/2008, Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra kế hoạch cứu trợ cả gói trị giá 700 tỷ USD để mua lại các khoản vay thế chấp có tính thanh khoản yếu và các tài sản khác liên quan đến nợ xấu của ngân hàng, tập đoàn tài chính. Tuy nhiên, khi khoản trợ cấp này chưa được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua, các chỉ số chứng khoán chủ đạo của Hoa Kỳ đã sụt giảm mạnh nhất kể từ năm 1987, thậm chí, chỉ trong một ngày, bị "bốc hơi" tới 1.100 tỷ USD.
-Đối với Indonesia, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 - 2009 rất nặng nề, với những ảnh hưởng có thể coi là lớn nhất trong số các nước Đông Nam Á. Tốc độ tăng trưởng GDP của nước này đã hạ từ mức 6,1% năm 2008 xuống còn 4,5% vào năm 2009. Thái Lan và Malaysia với mức tăng trưởng tương ứng là 2,3% và 1,5% vào năm 2009.
Ngay từ khi bắt đầu khủng hoảng tiền tệ, thị trường cổ phiếu của Indonesia cũng như các nước Đông Nam Á sa sút, chính phủ các nước cũng tuyên bố hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009. Việc thắt chặt tiền tệ và nhu cầu toàn cầu giảm sút làm giảm lòng tin của nhà tiêu dùng và nhà đầu tư, điều này gây ảnh hưởng bất lợi đối với ngành chế tạo và xuất khẩu của khu vực.
Đối với Singapore, ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ toàn cầu đối với ngành du lịch nước này khá rõ rệt. Tháng 9/2008, khách du lịch đến Singapore giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2008 và tình trạng giảm sút này còn kéo dài đến hết năm 2009 cũng như năm 2010.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động đến 5 ngành lớn của Philipines. Cụ thể, lao động Philipines tại nước ngoài bị mất việc làm buộc phải quay về nước, ngành dịch vụ bao gồm bất động sản gặp khó khăn, các ngành điện tử, viện trợ nước ngoài, xuất khẩu nông sản giảm sút từ đó đã tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.
Sửa lần cuối: