Công nhận Việt Nam Cộng Hoà có 1 nền giáo dục hơn hẳn cơm sườn

https://lanvy(.)me/2017/03/31/link-tai-sach-sach-cu-truoc-1975/
Tml nào tò mò thì vào đây đọc tìm hiểu nhé, nhớ bỏ dấu (). Trước 75 mà sách dc ntn thì tao cũng công nhận là nó có sự tiến bộ và khai phóng. Điều mà rất nhiều trường học quốc tế hay trường nc ngoài đang hướng đến. Ignore mấy con bò đỏ đi, đừng để tụi nó lái topic đi xa tới mấy chủ đề chiến tranh các thứ. Ở đây chỉ bàn về GIÁO DỤC thôi. Tao nghĩ ngày xưa nhiều người nếu dc đi học và đọc mấy bộ sách này thì việc họ chọn vượt biên âu cũng có lí do.
Nói khách quan thì thật ra chế độ nào cũng có những người giỏi giang xuất chúng cả cho dù cái chương trình giáo dục của chế độ đó ra sao. Nhiều đứa giỏi thì nó vẫn cứ giỏi thôi. Cũng may nhờ có internet xuất hiện và giúp đỡ. Nhưng việc đầu tư nền gd tốt, nhân bản và khai phóng lên toàn dân, tạo điều kiện đi học, trọng người tài thì sẽ có NHIỀU người giỏi và có lòng tự trọng cao, nâng lên % mặt bằng dân trí (Điều mà 1 số quốc gia dám chấp nhận vứt bỏ vì sợ dân khôn quá thì vua mất ghế như chơi).
Nhiều trường hợp nhắm ko "gù lưng" dc thì họ đành chọn qua nơi "thẳng lưng" để thích nghi thôi. À VN cũng có 1 nhân tài xuất chúng nghìn năm có 1 từ bỏ xứ giãy chết để về thiên đường cống hiến là anh Hiếu pê cê nhé :vozvn (20): tài năng và đạo đức của anh Hiếu pê cê là khỏi phải bàn :vozvn (20):
 
GIẢI MÃ SỰ "SANG TRỌNG" CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA (VNCH)...

• Hệ thống giáo dục hơn 20 năm không xóa nổi nạn mù chữ:

Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương tới địa phương.

Chương trình nặng về lý thuyết và thi cử, xa thực tế, thiếu thực hành. Chương trình nặng và dài, nhưng chỉ trọng trí dục mà xem nhẹ phần đức dục và thể dục. Ngay tại các trường chuyên môn và kỹ thuật, chương trình học cũng nặng phần lý thuyết, kém phần thực hành.

Trong thời gian tồn tại, không thể không phủ định những thành tựu của giáo dục Việt Nam Cộng hòa như: miễn học phí các trường công, mang tính xã hội hóa cao,... Tuy nhiên, do ngân sách giáo dục eo hẹp, hệ thống trường học thiếu thốn và không có chính sách khuyến học hiệu quả nên có nhiều trẻ em nghèo vẫn không thể đến trường. Tới năm 1974 tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số, tức là trong 20 năm tồn tại, Việt Nam Cộng hòa chưa thanh toán xong nạn mù chữ (trong khi đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thanh toán xong nạn mù chữ ở đồng bằng và trung du miền Bắc ngay từ năm 1958). Sau năm 1975, chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, trước tình trạng nhiều người dân miền Nam vẫn bị mù chữ, chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách Bình dân học vụ và đến cuối tháng 2 năm 1978, toàn bộ 21 tỉnh thành ở miền Nam đã cơ bản thanh toán xong nạn mù chữ.

• Nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn, nạn tham nhũng và "không thể tự nuôi nổi chính mình":

Kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển ổn định dưới thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống trong giai đoạn 1955-1963, sau đó do tác động của chiến tranh leo thang trở nên mất ổn định với những đặc trưng như: tốc độ tăng trưởng kinh tế không đều (có nhiều năm tăng trưởng bị âm), tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt thương mại.

Trong những năm 1958-1968 tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam Cộng hòa (~13.000) hơn hẳn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (~4.000) do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bị chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh trước đó, cộng với sự phá hoại của máy bay Mỹ. Bắt đầu từ 1970-1974 đã Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có sự vượt trội (~11.000) còn Việt Nam Cộng hòa không có dấu hiệu đi lên mà trì trệ, đi xuống (~10.000) (đơn vị: triệu USD, tính theo thời giá 2015) theo tác giả người Nga A.G. Vinogradov.

Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la vào năm 1974, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%.

Trải qua 21 năm, khối lượng viện trợ kinh tế mà Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa là rất lớn, đạt hơn 10 tỷ USD (thời giá thập niên 1960, tương đương 70-80 tỷ USD theo thời giá 2015). Đây là con số viện trợ kinh tế cao nhất của Hoa Kỳ so với bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Nguồn viện trợ Mỹ đã không giải quyết vấn đề cơ bản và cốt lõi nhất của nền kinh tế là sự “tự chủ”, trái lại, nó đã trở thành một loại ma túy nguy hại cho bản thân nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa. Nó tạo ra sự ỷ lại của nền kinh tế, phụ thuộc nặng vào viện trợ và thiếu động lực để tự lực cánh sinh.

Trước năm 1975, ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Năm 1978, chính phủ mới của nước Việt Nam thống nhất đã quốc hữu hóa khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa để chấm dứt sự kiểm soát của họ, thắt chặt kiểm soát nền kinh tế tập trung của mình.

Không hiểu người ta lấy số liệu ở đâu mà cho rằng kinh tế của "Hòn ngọc Viễn đông" hơn hẳn các nước khác trong khu vực trong khi nó còn không bằng cả Campuchia. Mà đến 2020 Việt Nam vẫn phải trả nợ giúp Việt Nam Cộng hòa cho Mỹ. Có kẻ nói rằng Việt Nam Cộng hòa để lại hàng nghìn tấn vàng nhưng thử hỏi ngần ấy tấn vàng có làm cho hàng nghìn người chất độc da cam lành lặn trở lại? Có làm cho hơn 2 triệu Anh Hùng Liệt Sĩ, thanh niên trai tráng sống lại, có thể phục dựng cả nước khỏi đống hoang tàn?

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã từng phát biểu:

“Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!"

Một viên chức than rằng "chiến tranh đã tạo thành “bản giao hưởng toàn quốc của trộm cắp, tham nhũng và hối lộ”.Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình"

Nhà báo Anh David Hotham đã viết:

“Người ta khoe rằng Việt Nam Cộng hòa đã độc lập thật sự, nhưng thật ra không có gì độc lập cả. Một nước làm sao có thể độc lập được khi cả ngân sách của quân đội mình đều do nước ngoài gánh chịu? Một nước làm sao có thể độc lập được khi 80% tiền mua hàng hóa nhập cảng không phải trả bằng tiền bán hàng hóa xuất cảng mà bằng tiền lấy trong ngân khố của Washington”.

• Quân lực "hạng tư thế giới" và nạn đảo ngũ:

Quân lực Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ cung cấp trang bị rất hùng hậu với sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Mỹ và các đồng minh, có nhiều các lực lượng hỗ trợ, bản thân lại có quân số thường trực và chính quy rất đông (tính đến năm 1975 là 1.351.000 quân).

Về chiến lược quân sự, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn). Gregory Daddis nhận xét: Những hành vi tội ác của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khiến người dân xem họ như kẻ thù. Một nông dân kể rằng "Khi quân đội Cộng hòa tới, mọi người trong làng đều bị đe dọa... Quân đội thoải mái đánh đập bất cứ ai, giết bất cứ ai", người khác kể rằng "cứ mỗi lần quân đội Quốc gia tới thì lại càng có nhiều người dân kết thân với Việt cộng". Khi được hỏi tại sao người dân không ủng hộ chính phủ Sài Gòn, một người dân trả lời "vì quân đội Quốc gia... thường xuyên đốt nhà của dân làng và hiếp dâm phụ nữ". Không có cách nào để quân đội Việt Nam Cộng hòa có thể đánh bại đối phương khi mà người dân đã xa lánh họ và quan hệ thân thiết với quân Giải phóng.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ có thể kiểm soát hoàn toàn được khoảng 20-30% dân số miền Nam. Phân nửa lãnh thổ với khoảng 1/3 dân số sống trong vùng tranh chấp. Phần còn lại sống trong những vùng do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam kiểm soát. Ngay trong dân chúng ở vùng do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát, nhiều người cũng không ủng hộ quân đội, ngầm ủng hộ Quân Giải phóng.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trị, tham nhũng quá nhiều, và thiếu ổn định, do đó làm sụt giảm sự ủng hộ và làm xói mòn tinh thần của binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa, kém tinh thần chiến đấu.

Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1965 đến năm 1972, ước tính có khoảng 840.000 binh sĩ đã đào ngũ. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12 năm 1974, có 176.000 lính đào ngũ (trung bình mỗi tháng có 24.000 lính đào ngũ). Tại các lực lượng tinh nhuệ của quân đội, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%). Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam rất ít khi đào ngũ hoặc chịu đầu hàng; họ đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh mục đích cá nhân để cống hiến cho nỗ lực chiến tranh của tập thể.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Clark Cliffords nhận xét:

"...Chỉ cần Quân lực Việt Nam Cộng hòa có được nửa lá gan của người ********, thì ngày hôm nay quân đội Hoa Kỳ có thể duyệt binh ở Hà Nội rồi, Quân đội của các ông chỉ biết bắn giết dân thường, bám theo sau và rút chạy trước, tướng lĩnh thì toàn tham nhũng, toàn hiếp dâm và chỉ giỏi nhảy đầm."

• Một Sài Gòn ô uế bởi nạn "đ. ĩ hợp pháp" để phát triển kinh tế:

Trong giai đoạn 1960-1975, hàng triệu lính viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào Việt Nam. Từ đó nở rộ các những chủ thầu cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho lính Mỹ, những người làm sở Mỹ… đến bọn ma cô, gái điế. M, gái nhảy, gái tắm hơi… Sự phân hóa về kinh tế đó dẫn tới sự đảo lộn các giá trị đạo đức truyền thống.

Người miền Nam thời đó có câu vè: “Thứ nhất sở Mỹ, thứ nhì gái đ. ĩ, thứ ba ma cô, thứ tư tướng tá”. Trong thời kì năm quyền hình ảnh những sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa chở gái ra chiến trường phục vụ tướng lĩnh là một hình ảnh quen thuộc.

Để “giúp vui” cho đạo quân viễn chinh, Mỹ – Thiệu cho phép mở cửa hàng loạt snack bars, phòng tắm hơi, hộp đêm, tiệm nhảy và nhất là nhà chứa, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá Mỹ.

Thị trường mại dâm, gọi một cách nôm na là “chợ heo”, được Mỹ – Thiệu công khai hóa và hợp pháp hóa. Ước tính toàn miền Nam năm 1975 có trên 200.000 gái bán dâm. So với số gái bán dâm bất hợp pháp trên toàn Việt Nam vào năm 2012 thì con số này cao gấp 7 lần, nếu xét về tỉ lệ dân số thì gấp 30 lần.

Một quan chức Sài Gòn còn công khai phát biểu: “Người Mỹ cần gái, chúng ta cần đôla. Tại sao chúng ta phải hạn chế, đó là nguồn thu đôla vô tận”

Năm 1966, từ Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: “Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ điế. m”.

Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: “Tại chợ heo đó, hằng ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng… cho lính Mỹ đến chọn dắt đi. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam”.

• "Kẻ Nghèo" giải phóng "kẻ giàu":

Xin thưa đó là một luận điệu xuyên tạc mà những kẻ phản động vẫn lôi ra đến tận ngày nay, đây là trận chiến đâu chỉ có quân dân miền Bắc mà là cả của quân dân Miền Nam. Họ không muốn sống trong "cái giàu" giả tạo, "cái giàu" viện trợ, "cái giàu" dơ bẩn, "cái giàu" của riêng người Hoa. Có thể tham khảo số liệu ở trên thì ta cũng thấy rằng Việt Nam Cộng Hòa cũng "giàu" như thế nào? Đừng lôi mỗi một góc của Sài Gòn ra khoe, mà hãy rời cái góc ấy ra nhìn vào ngoại thành xem nó ô uế như thế nào.
 
Nền giáo dục ám sát và đảo chính
**Tổng trưởng Bộ Giáo Dục VNCH Lê Minh Trí bị ám sát**

-Ngày 6/1/1969: Đó là một buổi sáng trời nóng ẩm, như bao ngày bình thường khác, bộ trường bộ Giáo dục - Bác sĩ Lê Minh Trí rời khỏi tư gia trên chiếc xe hơi để đến cơ quan. Đến một ngã tư, khi xe đang dừng đèn đỏ chỉ cách điểm đến chừng 4 dãy nhà, dường như mọi người trên xe không để ý rằng có một chiếc xe máy đã tiến sát đến bên hông chiếc Toyota. Trong nháy mắt, người ngồi sau xe máy đã quẳng vào trong cái bọc giấy, chiếc xe máy nhanh chóng rồ ga bỏ chạy và rồi quả na trong cái bọc phát nổ, những người ngồi trong xe chết tại chỗ .

-Qua kết quả khám nghiệm hiện trường, mảnh lựu đạn còn sót lại tại hiện trường cho thấy đây là loại lựu đạn do Mỹ sản xuất, không phải là loại lựu đạn Trung Quốc mà Quân GIải Phóng hay sử dụng. Cảnh sát ngay sau đó đã bắt giữ một trung sĩ thủy quân lục chiến Nam Việt Nam, một người đã đuổi thải khỏi quân đội, căn cứ vào điều mà họ mô tả là chứng cứ buộc tội: một chiếc xe gắn máy, những ghi chép về giờ giấc sinh hoạt hàng ngày của ông Trí, và số xe của chiếc xe Toyota (EG 0011) được viết bằng mực trên tay người này.

-Thủ tướng [Trần Văn Hương](https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%C6%B0%C6%A1ng) là người đã bổ nhiệm ông Trí, một trong những học trò cũ của ông trong những ngày ông Hương còn làm hiệu trưởng. Ông Hương đã khóc khi nghe được tin này. Tổng thống [Nguyễn Văn Thiệu](https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Thi%E1%BB%87u), Phó TT [Nguyễn Cao Kỳ](https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Cao_K%E1%BB%B3) và Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker đều đến dự tang lễ, và Thiệu đã truy tặng ông Trí Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Trong khi đó, các bạn bè của người quá cố đã phẫn nộ cho rằng động cơ giết hại ông Trí là của một người nào đó có vị trí cao hơn là một viên trung sĩ thủy quân lục chiến. Trước đó Thủ tướng Hương đã loại khỏi nội các của mình vị bộ trưởng giáo dục tiền nhiệm của ông Trí sau khi biết được là các học bổng du học đại học ở nước ngoài, mà kèm theo đó là việc được miễn quân dịch, đã được đem bán cho con cái các nhà giàu thay vì cấp cho những học sinh hội đủ tiêu chuẩn. Ông Trí, một chuyên gia tai-mũi-họng và một bác sĩ phẫu thuật tạo hình và từng giảng dạy tại trường Y Khoa Quốc gia, đã nhận trách nhiệm được ông Hương giao, để chấm dứt việc làm tai tiếng này. Có vẻ như là ông đang đạt được các tiến bộ. Ông đã bị đe dọa bốn lần bằng điện thoại cũng như qua nhiều bức thư nặc danh.

Bài viết này lấy nguồn từ tạp chí Time, vụ này tui lên các đài của nước ngoài thấy có quá ít thông tin nên xin phép các bác lấy thông tin từ Wikipedia

-The morning was muggy in Saigon, and normally punctual Education Minister Dr. Le Minh Tri was late leaving his villa for the ministry. When a red light halted the minister's Toyota four blocks from the office, Tri, his chauffeur and his bodyguard were more intent on the signal than on the motorbike that drew up alongside them. None was quick enough when one of the bike's two riders tossed a paper bag into the car; as the bike sped away, a hand grenade in the bag exploded. The chauffeur died instantly in the car's flaming wreckage. The bodyguard,...

[South Viet Nam: The Price of Honesty
 

Attachments

  • 2534B11B-DDA6-4C2D-9EEC-E0F97BB60DD2.jpeg
    2534B11B-DDA6-4C2D-9EEC-E0F97BB60DD2.jpeg
    637.4 KB · Lượt xem: 53
Dân chủ tự do nhưng lại không chứa nối tự do tôn giáo
Ảnh hưởng chính trị, tôn giáo đối với nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Trong giai đoạn 1954–1960, đã có 729 chuyên gia được cử sang Mỹ đào tạo: 222 trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục, 114 học về quản trị công cộng, nhưng chỉ có 55 người học về nông nghiệp và 7 người học về công nghiệp. Điều này nhấn mạnh mục tiêu của Mỹ trong việc hỗ trợ các cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng hòa, đó là đào tạo nên đội ngũ cán bộ chính phủ chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng và văn hóa Mỹ, nhằm tạo ra các quan chức chính phủ thân Mỹ trong tương lai. Trong khoảng 1958 tới 1973, đã có 1778 quan chức cấp cao của Việt Nam Cộng hòa được đào tạo chỉ riêng bởi nhóm công tác của Đại học Michigan (Mỹ).

Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 quy định “Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa ******** dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp”. Điều 4 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 (Chương I – Điều khoản căn bản) tiếp tục quy định rằng “Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa ******** dưới mọi hình thức. Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa ******** đều bị cấm chỉ”. Do đó, các nội dung giáo dục của Việt Nam Cộng hòa cũng phải tuân theo các quy định này.

Nhiều bộ sách giáo khoa được biên soạn với sự cố vấn từ Mỹ, trong đó lồng ghép nhiều tư tưởng chống Cộng của chính phủ Mỹ, ví dụ sách giáo khoa giáo dục công dân lớp 4 của Bộ giáo dục năm 1960 có ghi “******** là những kẻ phản bội gia đình, đất nước và tôn giáo. Tại các nước ******** con người bị coi như súc vật“. Những nội dung liên quan đến chủ nghĩa xã hội, việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lãnh đạo chiến tranh chống Pháp và việc Việt Nam Cộng hòa hợp tác với Pháp thì vẫn bị cấm giảng dạy, hoặc phải dạy sai sự thật. Sách giáo khoa lịch sử của Việt Nam Cộng hòa không viết gì về sự ra đời của Quốc gia Việt Nam (chính là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa) và sự cộng tác của họ với quân Pháp trong suốt giai đoạn 1949–1954 (chỉ ghi chung chung là “Pháp rước Bảo Đại về lập Chính phủ, mong lôi kéo người Quốc gia”). Sách có nhắc tới Cách mạng Tháng Tám và Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng không nói về việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo nhân dân làm nên hai sự kiện đó (chỉ ghi mơ hồ là “dân chúng kéo nhau giành chính quyền”, “người Việt yêu nước trường kỳ kháng chiến và thắng lợi”). Thay vào đó, sách mô tả ngược lại, rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã “2 lần cấu kết với Pháp phản bội dân tộc”.

Thực chất giáo dục Việt Nam Cộng hòa thực tế không thể thoát khỏi quỹ đạo ảnh hưởng từ Pháp, Mỹ, vì chính Pháp, Mỹ đã xây dựng và tài trợ cho nền giáo dục đó. Tính từ năm 1956 tới 1974, Mỹ đã chi tổng cộng 76 triệu USD (tương đương 450 triệu USD theo thời giá năm 2012) để viện trợ cho giáo dục Việt Nam Cộng hòa. Phần lớn sách giáo khoa của Việt Nam Cộng hòa được in ấn tại Mỹ, Hàn Quốc và Philipine. Ngoài những môn tự nhiên kỹ thuật, các môn học khác thường nặng về ca tụng sự viện trợ của Pháp, Mỹ, ca tụng nền độc lập giả hiệu của chế độ tay sai cho ngoại quốc. Nhà trường đã trở thành nơi tuyên truyền cho hành động xâm lược của ngoại quốc, gây ra sự chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, tôn giáo, gây hận thù trong các tầng lớp nhân dân. Sự can dự sâu của các trường đại học Mỹ vào chương trình đào tạo và chính sách chiến tranh tại Việt Nam đã gây ra nhiều phản đối từ phía học sinh và giáo viên người Việt.

Trong giai đoạn 1955-1963, dưới thời Ngô Đình Diệm, nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa bị xem là thiên vị Thiên Chúa giáo. Giáo hội Thiên Chúa giáo chi phối các trường của giáo hội về mặt tinh thần, cốt bảo đảm thực hiện được nội dung giáo dục “Duy linh” mà thực chất là nội dung thần học theo lối triết học kinh viện thời Trung cổ. Phần lớn các học bổng đi học nước ngoài đều rơi vào tay các linh mục hoặc sinh viên Thiên Chúa giáo.

Do chính sách ưu đãi tài chính cùng với những đặc quyền mà Ngô Đình Diệm dành cho, hệ thống trường tư thục của Thiên Chúa giáo phát triển rất nhanh. Theo thống kê: Từ năm 1953 đến năm 1963, khắp miền Nam đã xây dựng 145 trường cấp II và cấp III, riêng ở Sài Gòn có 30 trường với tổng số 62.324 học sinh. Cũng trong cùng thời gian này, Giáo hội Thiên Chúa giáo ở miền Nam Việt Nam, từ chỗ chỉ có 3 trường cấp II và III trong năm 1953, đến năm 1963 đã lên tới 1.060 trường. Có nơi Linh mục dùng uy thế của mình để phụ huynh không cho con học trường công mà phải vào học trường của Giáo hội, nên trường tư thục của Giáo hội làm tê liệt cả trường công vì không tuyển được học sinh. Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các chính sách thiên vị Thiên Chúa giáo trong nền giáo dục mới kết thúc.
 

Attachments

  • A961448C-CA9C-4E9C-8D3C-E4660AD491DB.jpeg
    A961448C-CA9C-4E9C-8D3C-E4660AD491DB.jpeg
    91 KB · Lượt xem: 31
Dân chủ tự do nhưng lại không chứa nối tự do tôn giáo
Ảnh hưởng chính trị, tôn giáo đối với nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Trong giai đoạn 1954–1960, đã có 729 chuyên gia được cử sang Mỹ đào tạo: 222 trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục, 114 học về quản trị công cộng, nhưng chỉ có 55 người học về nông nghiệp và 7 người học về công nghiệp. Điều này nhấn mạnh mục tiêu của Mỹ trong việc hỗ trợ các cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng hòa, đó là đào tạo nên đội ngũ cán bộ chính phủ chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng và văn hóa Mỹ, nhằm tạo ra các quan chức chính phủ thân Mỹ trong tương lai. Trong khoảng 1958 tới 1973, đã có 1778 quan chức cấp cao của Việt Nam Cộng hòa được đào tạo chỉ riêng bởi nhóm công tác của Đại học Michigan (Mỹ).

Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 quy định “Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa ******** dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp”. Điều 4 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 (Chương I – Điều khoản căn bản) tiếp tục quy định rằng “Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa ******** dưới mọi hình thức. Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa ******** đều bị cấm chỉ”. Do đó, các nội dung giáo dục của Việt Nam Cộng hòa cũng phải tuân theo các quy định này.

Nhiều bộ sách giáo khoa được biên soạn với sự cố vấn từ Mỹ, trong đó lồng ghép nhiều tư tưởng chống Cộng của chính phủ Mỹ, ví dụ sách giáo khoa giáo dục công dân lớp 4 của Bộ giáo dục năm 1960 có ghi “******** là những kẻ phản bội gia đình, đất nước và tôn giáo. Tại các nước ******** con người bị coi như súc vật“. Những nội dung liên quan đến chủ nghĩa xã hội, việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lãnh đạo chiến tranh chống Pháp và việc Việt Nam Cộng hòa hợp tác với Pháp thì vẫn bị cấm giảng dạy, hoặc phải dạy sai sự thật. Sách giáo khoa lịch sử của Việt Nam Cộng hòa không viết gì về sự ra đời của Quốc gia Việt Nam (chính là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa) và sự cộng tác của họ với quân Pháp trong suốt giai đoạn 1949–1954 (chỉ ghi chung chung là “Pháp rước Bảo Đại về lập Chính phủ, mong lôi kéo người Quốc gia”). Sách có nhắc tới Cách mạng Tháng Tám và Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng không nói về việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo nhân dân làm nên hai sự kiện đó (chỉ ghi mơ hồ là “dân chúng kéo nhau giành chính quyền”, “người Việt yêu nước trường kỳ kháng chiến và thắng lợi”). Thay vào đó, sách mô tả ngược lại, rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã “2 lần cấu kết với Pháp phản bội dân tộc”.

Thực chất giáo dục Việt Nam Cộng hòa thực tế không thể thoát khỏi quỹ đạo ảnh hưởng từ Pháp, Mỹ, vì chính Pháp, Mỹ đã xây dựng và tài trợ cho nền giáo dục đó. Tính từ năm 1956 tới 1974, Mỹ đã chi tổng cộng 76 triệu USD (tương đương 450 triệu USD theo thời giá năm 2012) để viện trợ cho giáo dục Việt Nam Cộng hòa. Phần lớn sách giáo khoa của Việt Nam Cộng hòa được in ấn tại Mỹ, Hàn Quốc và Philipine. Ngoài những môn tự nhiên kỹ thuật, các môn học khác thường nặng về ca tụng sự viện trợ của Pháp, Mỹ, ca tụng nền độc lập giả hiệu của chế độ tay sai cho ngoại quốc. Nhà trường đã trở thành nơi tuyên truyền cho hành động xâm lược của ngoại quốc, gây ra sự chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, tôn giáo, gây hận thù trong các tầng lớp nhân dân. Sự can dự sâu của các trường đại học Mỹ vào chương trình đào tạo và chính sách chiến tranh tại Việt Nam đã gây ra nhiều phản đối từ phía học sinh và giáo viên người Việt.

Trong giai đoạn 1955-1963, dưới thời Ngô Đình Diệm, nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa bị xem là thiên vị Thiên Chúa giáo. Giáo hội Thiên Chúa giáo chi phối các trường của giáo hội về mặt tinh thần, cốt bảo đảm thực hiện được nội dung giáo dục “Duy linh” mà thực chất là nội dung thần học theo lối triết học kinh viện thời Trung cổ. Phần lớn các học bổng đi học nước ngoài đều rơi vào tay các linh mục hoặc sinh viên Thiên Chúa giáo.

Do chính sách ưu đãi tài chính cùng với những đặc quyền mà Ngô Đình Diệm dành cho, hệ thống trường tư thục của Thiên Chúa giáo phát triển rất nhanh. Theo thống kê: Từ năm 1953 đến năm 1963, khắp miền Nam đã xây dựng 145 trường cấp II và cấp III, riêng ở Sài Gòn có 30 trường với tổng số 62.324 học sinh. Cũng trong cùng thời gian này, Giáo hội Thiên Chúa giáo ở miền Nam Việt Nam, từ chỗ chỉ có 3 trường cấp II và III trong năm 1953, đến năm 1963 đã lên tới 1.060 trường. Có nơi Linh mục dùng uy thế của mình để phụ huynh không cho con học trường công mà phải vào học trường của Giáo hội, nên trường tư thục của Giáo hội làm tê liệt cả trường công vì không tuyển được học sinh. Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các chính sách thiên vị Thiên Chúa giáo trong nền giáo dục mới kết thúc.
Bài viết hay !
 
GIẢI MÃ SỰ "SANG TRỌNG" CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA (VNCH)...

• Hệ thống giáo dục hơn 20 năm không xóa nổi nạn mù chữ:

Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương tới địa phương.

Chương trình nặng về lý thuyết và thi cử, xa thực tế, thiếu thực hành. Chương trình nặng và dài, nhưng chỉ trọng trí dục mà xem nhẹ phần đức dục và thể dục. Ngay tại các trường chuyên môn và kỹ thuật, chương trình học cũng nặng phần lý thuyết, kém phần thực hành.

Trong thời gian tồn tại, không thể không phủ định những thành tựu của giáo dục Việt Nam Cộng hòa như: miễn học phí các trường công, mang tính xã hội hóa cao,... Tuy nhiên, do ngân sách giáo dục eo hẹp, hệ thống trường học thiếu thốn và không có chính sách khuyến học hiệu quả nên có nhiều trẻ em nghèo vẫn không thể đến trường. Tới năm 1974 tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số, tức là trong 20 năm tồn tại, Việt Nam Cộng hòa chưa thanh toán xong nạn mù chữ (trong khi đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thanh toán xong nạn mù chữ ở đồng bằng và trung du miền Bắc ngay từ năm 1958). Sau năm 1975, chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, trước tình trạng nhiều người dân miền Nam vẫn bị mù chữ, chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách Bình dân học vụ và đến cuối tháng 2 năm 1978, toàn bộ 21 tỉnh thành ở miền Nam đã cơ bản thanh toán xong nạn mù chữ.

• Nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn, nạn tham nhũng và "không thể tự nuôi nổi chính mình":

Kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển ổn định dưới thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống trong giai đoạn 1955-1963, sau đó do tác động của chiến tranh leo thang trở nên mất ổn định với những đặc trưng như: tốc độ tăng trưởng kinh tế không đều (có nhiều năm tăng trưởng bị âm), tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt thương mại.

Trong những năm 1958-1968 tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam Cộng hòa (~13.000) hơn hẳn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (~4.000) do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bị chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh trước đó, cộng với sự phá hoại của máy bay Mỹ. Bắt đầu từ 1970-1974 đã Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có sự vượt trội (~11.000) còn Việt Nam Cộng hòa không có dấu hiệu đi lên mà trì trệ, đi xuống (~10.000) (đơn vị: triệu USD, tính theo thời giá 2015) theo tác giả người Nga A.G. Vinogradov.

Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la vào năm 1974, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%.

Trải qua 21 năm, khối lượng viện trợ kinh tế mà Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa là rất lớn, đạt hơn 10 tỷ USD (thời giá thập niên 1960, tương đương 70-80 tỷ USD theo thời giá 2015). Đây là con số viện trợ kinh tế cao nhất của Hoa Kỳ so với bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Nguồn viện trợ Mỹ đã không giải quyết vấn đề cơ bản và cốt lõi nhất của nền kinh tế là sự “tự chủ”, trái lại, nó đã trở thành một loại ma túy nguy hại cho bản thân nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa. Nó tạo ra sự ỷ lại của nền kinh tế, phụ thuộc nặng vào viện trợ và thiếu động lực để tự lực cánh sinh.

Trước năm 1975, ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Năm 1978, chính phủ mới của nước Việt Nam thống nhất đã quốc hữu hóa khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa để chấm dứt sự kiểm soát của họ, thắt chặt kiểm soát nền kinh tế tập trung của mình.

Không hiểu người ta lấy số liệu ở đâu mà cho rằng kinh tế của "Hòn ngọc Viễn đông" hơn hẳn các nước khác trong khu vực trong khi nó còn không bằng cả Campuchia. Mà đến 2020 Việt Nam vẫn phải trả nợ giúp Việt Nam Cộng hòa cho Mỹ. Có kẻ nói rằng Việt Nam Cộng hòa để lại hàng nghìn tấn vàng nhưng thử hỏi ngần ấy tấn vàng có làm cho hàng nghìn người chất độc da cam lành lặn trở lại? Có làm cho hơn 2 triệu Anh Hùng Liệt Sĩ, thanh niên trai tráng sống lại, có thể phục dựng cả nước khỏi đống hoang tàn?

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã từng phát biểu:

“Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!"

Một viên chức than rằng "chiến tranh đã tạo thành “bản giao hưởng toàn quốc của trộm cắp, tham nhũng và hối lộ”.Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình"

Nhà báo Anh David Hotham đã viết:

“Người ta khoe rằng Việt Nam Cộng hòa đã độc lập thật sự, nhưng thật ra không có gì độc lập cả. Một nước làm sao có thể độc lập được khi cả ngân sách của quân đội mình đều do nước ngoài gánh chịu? Một nước làm sao có thể độc lập được khi 80% tiền mua hàng hóa nhập cảng không phải trả bằng tiền bán hàng hóa xuất cảng mà bằng tiền lấy trong ngân khố của Washington”.

• Quân lực "hạng tư thế giới" và nạn đảo ngũ:

Quân lực Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ cung cấp trang bị rất hùng hậu với sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Mỹ và các đồng minh, có nhiều các lực lượng hỗ trợ, bản thân lại có quân số thường trực và chính quy rất đông (tính đến năm 1975 là 1.351.000 quân).

Về chiến lược quân sự, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn). Gregory Daddis nhận xét: Những hành vi tội ác của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khiến người dân xem họ như kẻ thù. Một nông dân kể rằng "Khi quân đội Cộng hòa tới, mọi người trong làng đều bị đe dọa... Quân đội thoải mái đánh đập bất cứ ai, giết bất cứ ai", người khác kể rằng "cứ mỗi lần quân đội Quốc gia tới thì lại càng có nhiều người dân kết thân với Việt cộng". Khi được hỏi tại sao người dân không ủng hộ chính phủ Sài Gòn, một người dân trả lời "vì quân đội Quốc gia... thường xuyên đốt nhà của dân làng và hiếp dâm phụ nữ". Không có cách nào để quân đội Việt Nam Cộng hòa có thể đánh bại đối phương khi mà người dân đã xa lánh họ và quan hệ thân thiết với quân Giải phóng.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ có thể kiểm soát hoàn toàn được khoảng 20-30% dân số miền Nam. Phân nửa lãnh thổ với khoảng 1/3 dân số sống trong vùng tranh chấp. Phần còn lại sống trong những vùng do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam kiểm soát. Ngay trong dân chúng ở vùng do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát, nhiều người cũng không ủng hộ quân đội, ngầm ủng hộ Quân Giải phóng.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trị, tham nhũng quá nhiều, và thiếu ổn định, do đó làm sụt giảm sự ủng hộ và làm xói mòn tinh thần của binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa, kém tinh thần chiến đấu.

Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1965 đến năm 1972, ước tính có khoảng 840.000 binh sĩ đã đào ngũ. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12 năm 1974, có 176.000 lính đào ngũ (trung bình mỗi tháng có 24.000 lính đào ngũ). Tại các lực lượng tinh nhuệ của quân đội, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%). Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam rất ít khi đào ngũ hoặc chịu đầu hàng; họ đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh mục đích cá nhân để cống hiến cho nỗ lực chiến tranh của tập thể.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Clark Cliffords nhận xét:

"...Chỉ cần Quân lực Việt Nam Cộng hòa có được nửa lá gan của người ********, thì ngày hôm nay quân đội Hoa Kỳ có thể duyệt binh ở Hà Nội rồi, Quân đội của các ông chỉ biết bắn giết dân thường, bám theo sau và rút chạy trước, tướng lĩnh thì toàn tham nhũng, toàn hiếp dâm và chỉ giỏi nhảy đầm."

• Một Sài Gòn ô uế bởi nạn "đ. ĩ hợp pháp" để phát triển kinh tế:

Trong giai đoạn 1960-1975, hàng triệu lính viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào Việt Nam. Từ đó nở rộ các những chủ thầu cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho lính Mỹ, những người làm sở Mỹ… đến bọn ma cô, gái điế. M, gái nhảy, gái tắm hơi… Sự phân hóa về kinh tế đó dẫn tới sự đảo lộn các giá trị đạo đức truyền thống.

Người miền Nam thời đó có câu vè: “Thứ nhất sở Mỹ, thứ nhì gái đ. ĩ, thứ ba ma cô, thứ tư tướng tá”. Trong thời kì năm quyền hình ảnh những sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa chở gái ra chiến trường phục vụ tướng lĩnh là một hình ảnh quen thuộc.

Để “giúp vui” cho đạo quân viễn chinh, Mỹ – Thiệu cho phép mở cửa hàng loạt snack bars, phòng tắm hơi, hộp đêm, tiệm nhảy và nhất là nhà chứa, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá Mỹ.

Thị trường mại dâm, gọi một cách nôm na là “chợ heo”, được Mỹ – Thiệu công khai hóa và hợp pháp hóa. Ước tính toàn miền Nam năm 1975 có trên 200.000 gái bán dâm. So với số gái bán dâm bất hợp pháp trên toàn Việt Nam vào năm 2012 thì con số này cao gấp 7 lần, nếu xét về tỉ lệ dân số thì gấp 30 lần.

Một quan chức Sài Gòn còn công khai phát biểu: “Người Mỹ cần gái, chúng ta cần đôla. Tại sao chúng ta phải hạn chế, đó là nguồn thu đôla vô tận”

Năm 1966, từ Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: “Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ điế. m”.

Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: “Tại chợ heo đó, hằng ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng… cho lính Mỹ đến chọn dắt đi. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam”.

• "Kẻ Nghèo" giải phóng "kẻ giàu":

Xin thưa đó là một luận điệu xuyên tạc mà những kẻ phản động vẫn lôi ra đến tận ngày nay, đây là trận chiến đâu chỉ có quân dân miền Bắc mà là cả của quân dân Miền Nam. Họ không muốn sống trong "cái giàu" giả tạo, "cái giàu" viện trợ, "cái giàu" dơ bẩn, "cái giàu" của riêng người Hoa. Có thể tham khảo số liệu ở trên thì ta cũng thấy rằng Việt Nam Cộng Hòa cũng "giàu" như thế nào? Đừng lôi mỗi một góc của Sài Gòn ra khoe, mà hãy rời cái góc ấy ra nhìn vào ngoại thành xem nó ô uế như thế nào.
địt mẹ , mẹ mày đang lên đỉnh
 
TRẺ EM VNCH HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ LÍNH MỸ?
Câu trả lời là: hút thuốc lá kiểu Mỹ.
----------------
P/s: đến những năm 80 của thế kỷ trước người ta mới bắt đầu tuyên truyền về tác hại của hút thuốc lá và ra luật hạn chế việc hút thuốc. Trước đó, thuốc lá được coi là tốt cho sức khỏe, thậm chí còn có các bác sĩ đứng ra làm đại diện quảng cáo cho các hãng thuốc lớn.
 

Attachments

  • 6A295806-BE31-4418-A926-4066B8D735D1.jpeg
    6A295806-BE31-4418-A926-4066B8D735D1.jpeg
    78.2 KB · Lượt xem: 16
  • A4DCA56B-EE4F-4F8C-B71D-C876EACF7FF0.jpeg
    A4DCA56B-EE4F-4F8C-B71D-C876EACF7FF0.jpeg
    147.6 KB · Lượt xem: 15
  • 8548BEEC-6E1D-4E6B-84DC-2796EE41781D.jpeg
    8548BEEC-6E1D-4E6B-84DC-2796EE41781D.jpeg
    112.9 KB · Lượt xem: 14
  • 8347EAB2-3808-48FE-A90D-98F685B31A5A.jpeg
    8347EAB2-3808-48FE-A90D-98F685B31A5A.jpeg
    97.7 KB · Lượt xem: 13
  • 2372EC21-0DA3-4980-A307-1D2F3563DC26.jpeg
    2372EC21-0DA3-4980-A307-1D2F3563DC26.jpeg
    144.5 KB · Lượt xem: 12
  • 09709E85-6AF3-4B4B-A7FD-3AAF4D8B34DB.jpeg
    09709E85-6AF3-4B4B-A7FD-3AAF4D8B34DB.jpeg
    92.6 KB · Lượt xem: 10
  • D1A59CA5-EFF7-4131-84C8-55CDED95EA81.jpeg
    D1A59CA5-EFF7-4131-84C8-55CDED95EA81.jpeg
    137.8 KB · Lượt xem: 9
  • 79BD7C0F-95A5-49D3-9CDB-97610C1A3FB5.jpeg
    79BD7C0F-95A5-49D3-9CDB-97610C1A3FB5.jpeg
    26.4 KB · Lượt xem: 9
  • 6A7E8FE6-7C30-44E2-8BE0-374F0A9214C5.jpeg
    6A7E8FE6-7C30-44E2-8BE0-374F0A9214C5.jpeg
    105.9 KB · Lượt xem: 9
  • 7F927FBA-24F8-428E-80CC-1B31BB21A913.jpeg
    7F927FBA-24F8-428E-80CC-1B31BB21A913.jpeg
    185.6 KB · Lượt xem: 10
**NẾU KHÔNG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM LIỆU VNCH CÓ GIÀU NHƯ HÀN QUỐC**

Những phần tử lưu vong phản quốc, cơ hội chính trị, bất mãn thường ra rả những “bài ca” xuyên tạc lịch sử dân tộc với những luận điệu cũ rích. Một trong những luận điệu mà bọn chúng thường xuyên ”nhai đi nhai lại” đó là: “Nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam ngày nay phát triển không hề thua kém Hàn Quốc”, “Sài Gòn ngày trước được mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông” còn phát triển hơn cả Singapore”,…. Những luận điệu ấy lan truyền trên internet dưới nhiều hình thức như bài viết, clip hòng đánh lừa những người ít thông tin, thiếu hiểu biết, đặc biệt là nhắm vào thế hệ trẻ.

Vậy, sự thật của những luận điệu trên là gì? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu:

**Kinh tế của Việt Nam cộng hòa – một nền kinh tế không có nội lực, phụ thuộc vào Mỹ:**

Trong cuộc khảo sát tiến hành năm 1971 của chính phủ Mỹ, trong cơ cấu GDP của Việt Nam cộng hòa (VNCH) nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỉ trọng khoảng 30% GDP, còn tỉ trọng công nghiệp chỉ trong khoảng 8-10%, riêng khu vực dịch vụ chiếm 45-60%.

Công nghiệp của VNCH đã nhỏ lại còn phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn nguyên liệu và nhiên liệu nhập khẩu. Chẳng hạn công nghiệp đường, năm 1973 phải dùng tới 97,4 % nguyên liệu đường thô nhập khẩu. Về nhiên liệu, mỗi năm VNCH phải nhập 2 triệu tấn xăng dầu, 1 nửa để chạy xe cộ, máy móc các loại, một nửa để chạy các nhà máy điện.

Đối với ngành nông, lâm, ngư nghiệp, đây là trụ cột của nền kinh tế VNCH nhưng tình trạng cũng không khả quan hơn. Mặc dù có đồng bằng sông Cửu Long phì nhiêu, màu mỡ nhưng từ năm 1965 trở đi VNCH phải nhập khẩu gạo. Cụ thể: năm 1965 nhập khẩu 271 nghìn tấn, năm 1966 nhập 434 nghìn tấn, năm 1967 nhập 749 nghìn tấn (theo tài liệu “Tương lai kinh tế của VNCH” do tổ chức The Rand Corporation xuất bản tháng 11 năm 1969).

Khu vực chiếm tỉ trọng cao nhất trong GDP của VNCH là dịch vụ. Lý do dịch vụ chiếm tỉ trọng cao là nhờ sự có mặt của hàng chục ngàn lính Mỹ. Theo phân tích của giáo sư Đặng Phong (giáo sư kinh tế học) trung bình 1 lính Mỹ 1 tháng được trả 800 USD. Như vậy, vào lúc cao điểm Mỹ có trên nửa triệu quân nhân ở Nam Việt thì 1 năm tiêu thụ tại chỗ của lính Mỹ đã lên đến 4 tỷ USD. Đây chính là sức cầu quan trọng của khu vực dịch vụ. Mặt khác, không chỉ có riêng lính Mỹ, trong suốt thời kỳ tồn tại của VNCH tiền lương cho bộ máy công chức, quân đội, cảnh sát với tổng số hơn 1 triệu người đều do Mỹ chi trả. Khi Mỹ rút đi và cắt giảm viện trợ thì việc trả lương cho số người này đã quá sức của nền kinh tế VNCH.

Như vậy, có thể thấy rằng bản thân nền kinh tế của VNCH không có nội lực. Trong sản xuất công nghiệp thì phải dựa vào nguồn nguyên, nhiên liệu nhập khẩu. Dịch vụ thì hoàn toàn dựa vào sức cầu của lính Mỹ, do đó khi lính Mỹ rút khỏi Việt Nam thì khu vực này sẽ bị thu hẹp đến tối đa. Khi Mỹ cắt giảm viện trợ thì toàn bộ nền kinh tế VNCH sẽ lao đao vì ngay cả tiền nhập khẩu xăng dầu cũng thiếu.

**Nếu nền kinh tế VNCH như vậy tại sao lại có danh hiệu “hòn ngọc Viễn Đông” để nói về Sài Gòn?**

Thật ra 2 vấn đề này không hề mâu thuẫn nhau. Vẻ phồn hoa của Sài Gòn trước năm 1975 là có thật, nhưng sự phồn hoa ấy không đến từ bản thân nền kinh tế VNCH mà là do sự có mặt của hàng chục vạn người Mỹ tạo nên. Theo binh lĩnh Mỹ, các loại hàng hóa tiêu dùng phục vụ họ cũng được tuồn vào Việt Nam. Sài Gòn vừa là đầu não của miền Nam, lại có hải cảng để nhận hàng hóa Mỹ, do vậy mà từ rất sớm thành phố Sài Gòn đã nhộn nhịp xe máy, ô tô và có vô tuyến truyền hình, các loại nhà hàng khách sạn nhan nhản, các trào lưu thời trang, ăn chơi trên thế giới cũng được du nhập và cập nhật liên tục theo sự luân chuyển của binh lính Mỹ. Mặt khác, bên cạnh vẻ phồn hoa thì thành phố này còn 1 bộ mặt khác. Năm 1970 khảo sát của chính phủ Mỹ cho thấy, ngoài khu trung tâm thành phố phồn hoa ra, Sài Gòn là 1 khu ổ chuột khổng lồ, khoảng 40% dân số khu vực Sài Gòn khi đó, tức 1,2 triệu người sống trong những khu ổ chuột.

**Nếu không có sự kiện ngày 30/4/1975 miền nam Việt Nam có giàu như Hàn Quốc ngày nay?**

Nói về xuất phát điểm, xuất phát điểm của miền nam Việt Nam không hề thua kém so với Hàn Quốc vào năm 1954. Vì khi đó Hàn Quốc vừa trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên ác liệt, mà Nam Việt Nam cũng vừa trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp. Hàn Quốc và VNCH có 1 điểm chung nữa là thời kỳ này đều dựa hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ. Tuy nhiên, giai đoạn từ cuối thập niên 1960 trở đi, kinh tế Hàn Quốc đã dần giảm sự phụ thuộc vào Mỹ. Vì Mỹ đã cắt giảm viện trợ và bản thân Hàn Quốc đã tích cực phát triển nội lực, thể hiện giá trị xuất khẩu tăng nhanh chóng. Ngược lại, giá trị xuất khẩu của VNCH lại không ngừng giảm và chênh lệch giữa giá trị nhập khẩu và giá trị xuất khẩu ngày càng được gia tăng.

Như vậy vào cuối thập niên 70 kinh tế Hàn Quốc đã vượt xa kinh tế VNCH. Do vậy giả định không có sự kiện 30/4/1975, thì ở thời điểm năm 1975 kinh tế Hàn Quốc đã vượt xa hơn VNCH rất nhiều rồi.

Với tất cả những gì đã nêu, nếu không có sự kiện 30/4/1975 và nước Mỹ không viện trợ mỗi năm hơn nửa tỉ USD nữa thì nền kinh tế VNCH không biết mất bao nhiêu năm để “cai sữa” Mỹ, trước khi có thể “tập bò” và “tập đi” bằng chân của mình. “Cai sữa” xong về mặt kinh tế, VNCH lại còn phải đối mặt với một xã hội với đủ các tệ nạn ma túy, mại dâm do 10 năm quân Mỹ ở Việt Nam gây ra. Do vậy, hãy quên cái ảo tưởng nếu không có sự kiện 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam sẽ giàu như Hàn Quốc.

**KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY**

Giờ đây, mặc dù suốt một thời gian dài bị ảnh hưởng không nhỏ bởi chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ, nhưng Việt Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc top đầu thế giới. Kinh tế Việt Nam hiện đang nổi lên như một điểm đầu tư lý tưởng với lợi thế về nguồn nhân lực trẻ và tốc độ tăng trưởng ấn tượng, đang được các tập đoàn lớn hàng đầu thế giới, như: Samsung, Intel, LG… rót nguồn vốn khổng lồ để xây dựng các nhà máy, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều tổ chức kinh tế có uy tín trên thế giới như Bloomberg, Forbes,… đánh giá Việt Nam sẽ vươn lên trở thành “con hổ” về kinh tế tiếp theo tại châu Á.

Sự thật hiển nhiên trong quá khứ và hiện tại đã phủ định sự lừa phỉnh trong tuyệt vọng của những kẻ thiếu nhân tính, cố tô vẽ cho một bức tranh của chính quyền Sài Gòn trong quá khứ, hòng phủ nhận những thành quả của Việt Nam sau giải phóng. Có thể khẳng định, mặc dù còn không ít khó khăn, thách thức nhưng Việt Nam đang dần vươn mình trở thành một đất nước thịnh vượng. Chính tinh thần, hào khí Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã cổ vũ, khích lệ, tiếp thêm nguồn động lực để toàn thể dân tộc Việt Nam phấn khởi, hăng hái bước vào cuộc chiến đấu mới – cuộc chiến đấu chống nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước phát triển, sánh ngang các nước tiên tiến khắp năm châu.

Nguồn: Thời Luận
 

Attachments

  • CEF4DBA7-B053-4DD2-AAF7-2FC47DA027B7.jpeg
    CEF4DBA7-B053-4DD2-AAF7-2FC47DA027B7.jpeg
    40.6 KB · Lượt xem: 10
  • 2746D2DE-7852-4038-B0F2-369F99A4DF1A.jpeg
    2746D2DE-7852-4038-B0F2-369F99A4DF1A.jpeg
    34.9 KB · Lượt xem: 13
  • 08164F3D-6FB3-4BB9-9790-D61E1185221F.jpeg
    08164F3D-6FB3-4BB9-9790-D61E1185221F.jpeg
    24.6 KB · Lượt xem: 36
TIẾNG VIỆT VNCH VÀ TIẾNG VIỆT ********

Tâm sự của một nhà báo người Việt, đang làm ở một tờ báo tiếng Việt tại Mỹ than thở: “Khó quá đi trời đất ơi! Các cụ bắt bẻ từng từ một. “Sân bay” không được, phải gọi “phi trường”. “Đường băng” không được, phải xài “phi đạo”. “Tài khoản” (ngân hàng) không được, phải xài “trương mục”… Các cụ bảo “sân bay”, “đường băng”, “tài khoản” là từ của Việt Cộng, cấm xài. Phải xài từ của Cộng hòa mới được! Mà không xài thì các cụ giận, các cụ bảo mình là ********, rồi các cụ tẩy chay báo”.

Số từ mà nhóm người này tẩy chay khá nhiều.
 

Attachments

  • 4A185CE8-CD72-49A3-8AEA-9B5C8D40C448.jpeg
    4A185CE8-CD72-49A3-8AEA-9B5C8D40C448.jpeg
    105.1 KB · Lượt xem: 39
  • 12EB64BB-CCEC-40F5-BD3A-C3266EFFD4D0.jpeg
    12EB64BB-CCEC-40F5-BD3A-C3266EFFD4D0.jpeg
    162.3 KB · Lượt xem: 58
Tờ rơi tuyên truyền của VNCH về thuốc diệt cỏ chứa chất độc da cam- Đioxin trong chiến tranh Việt Nam.

Tác hại của chất độc dam cam Dioxin chắc không cần phải nhắc lại. Dăm ba cái "huyền thoại" lương khô tàu, thuốc men tàu chỉ là trò cười của trẻ con.

Bất kỳ loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng bình thương dùng trong nông nghiệp đều cực kỳ độc hại, chứ đừng nói đến những loại thuốc diệt trừ cả thảm thực vật và động vật như thế này.
----
P/s: "chất khai quang" chắc biết chọn "người tốt" :))
--Đông Tây sử luận.
 

Attachments

  • 0F97244D-E8B8-45A8-892C-E3426199D1F7.jpeg
    0F97244D-E8B8-45A8-892C-E3426199D1F7.jpeg
    150.9 KB · Lượt xem: 55
  • D31280CD-9C6C-4603-A0E8-E508A18492D9.jpeg
    D31280CD-9C6C-4603-A0E8-E508A18492D9.jpeg
    129.8 KB · Lượt xem: 58
Tờ rơi tuyên truyền của VNCH về thuốc diệt cỏ chứa chất độc da cam- Đioxin trong chiến tranh Việt Nam.

Tác hại của chất độc dam cam Dioxin chắc không cần phải nhắc lại. Dăm ba cái "huyền thoại" lương khô tàu, thuốc men tàu chỉ là trò cười của trẻ con.

Bất kỳ loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng bình thương dùng trong nông nghiệp đều cực kỳ độc hại, chứ đừng nói đến những loại thuốc diệt trừ cả thảm thực vật và động vật như thế này.
----
P/s: "chất khai quang" chắc biết chọn "người tốt" :))
--Đông Tây sử luận.
Móa. Thời đại nào, chế độ nào cũng có những quả tuyên truyền vcl nhỉ. Cứ tưởng Việt Minh làm truyền thông là trùm ai ngờ VNCH tuyên truyền chất độc da cam cũng bá quá chứ có đùa đâu. =))
 
địt mẹ bên chính quyền người Kinh cũng ko dạng dừa gì đâu nên tao ko tin lắm ,bọn nó chỉ lợi và no mồm thôi chứ đất nhà ông nội tao ở Lào Cai sau sự kiện năm 79 mất đất mới chạy vào nam
 
Sửa lần cuối:
Bọn bò đỏ đi học chỉ biết tôn thờ Minh Râu nên giáo dục c sản nát bét là phải
 
Nói về nguyên nền giáo dục thì đúng, chấp nhận.
Nhưng bảo quay về hay vnch sẽ tốt hơn thì đéo, cái nền chính trị yếu kém vl, ngoại xâm nội phản đéo đỡ đc, tham nhũng tràn lan, viện trợ ngập mồm nhưng đánh toàn thua, kinh tế không thấy vượt trội tự lực lên.
Cơm sườn giờ chúng mày đang chê ấy, và chê rất đúng nhưng nó còn tồn tại vì nó còn hợp lí, chưa đến mức tàn tạ phải bị thay đổi.
Nó tệ nhưng nó hơn chán cái vnch, giờ chúng m ngồi google chỉ nhìn mấy cái tốt thôi, chứ t thấy nó đc viện trợ tiền mà đéo ổn định được xã hội, đéo bảo vệ đc dân, bảo vệ chính chế độ còn đéo nổi thì làm ăn cc gì.
Còn tham nhũng ấy, nó là do người Việt Nam chúng ta đấy mấy tml, thử qua cả 2 chế độ, chế độ nào cũng tham nhũng tụt cặc :vozvn (12):
Đừng đổ lỗi chế độ, đéo có cái chế độ nào độ nổi chúng mình đâu mấy tml =))))
 
Tờ rơi tuyên truyền của VNCH về thuốc diệt cỏ chứa chất độc da cam- Đioxin trong chiến tranh Việt Nam.

Tác hại của chất độc dam cam Dioxin chắc không cần phải nhắc lại. Dăm ba cái "huyền thoại" lương khô tàu, thuốc men tàu chỉ là trò cười của trẻ con.

Bất kỳ loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng bình thương dùng trong nông nghiệp đều cực kỳ độc hại, chứ đừng nói đến những loại thuốc diệt trừ cả thảm thực vật và động vật như thế này.
----
P/s: "chất khai quang" chắc biết chọn "người tốt" :))
--Đông Tây sử luận.
Nạn nhân "da cam" toàn thấy lính Bắc Việt, lính Mỹ + VNCH + Dân miền Nam + thú rừng đéo ai/con nào bị :))
 
tài giỏi thế nào ? hay thế nào thì cũng đã bị tiêu diệt giờ còn mấy thằng 3 sọc già sắp xuống lỗ . chứ những người VN ở nước ngoài giờ họ cũng muốn chung sống hòa bình . Giờ ĐCS lãnh đạo nhưng mở cửa vẫn tốt chán mà .
Một thằng thầy giáo với 1 thằng cướp đấm nhau thì thằng nào thua.
 
Mà nói ngay khoa học kĩ thuật
Gì chứ chúng m xem bây giờ chỉ mong lừa lọc cờ bạc, cổ coin để có nhiều tiền, xong dè bỉu bọn học mà ko kiếm đc tiền, thì có mà cứt, so thế lôz nào đc với các cụ, nhất là những ng như thằng kia list ở trên kìa :v
Mẹ đọc cái bài nhiều chữ đã lừoi chứ đừng nói, giờ bảo học khoa học chắc ngoác mẹ mồm ra, trốn nhanh hơn trốn nghĩa vụ qs
Chấp nhận thời thế thôi, h đua nhau kiếm tiền làm giàu hết, thì chấp nhận rẻ tri thức với tư cách đi thôi, mơ đỉnh cao đéo gì :v
Đòi đội hình HAGL phải đá ngang MU Chelsea à =))))
 
GIẢI MÃ SỰ "SANG TRỌNG" CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA (VNCH)...

• Hệ thống giáo dục hơn 20 năm không xóa nổi nạn mù chữ:

Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương tới địa phương.

Chương trình nặng về lý thuyết và thi cử, xa thực tế, thiếu thực hành. Chương trình nặng và dài, nhưng chỉ trọng trí dục mà xem nhẹ phần đức dục và thể dục. Ngay tại các trường chuyên môn và kỹ thuật, chương trình học cũng nặng phần lý thuyết, kém phần thực hành.

Trong thời gian tồn tại, không thể không phủ định những thành tựu của giáo dục Việt Nam Cộng hòa như: miễn học phí các trường công, mang tính xã hội hóa cao,... Tuy nhiên, do ngân sách giáo dục eo hẹp, hệ thống trường học thiếu thốn và không có chính sách khuyến học hiệu quả nên có nhiều trẻ em nghèo vẫn không thể đến trường. Tới năm 1974 tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số, tức là trong 20 năm tồn tại, Việt Nam Cộng hòa chưa thanh toán xong nạn mù chữ (trong khi đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thanh toán xong nạn mù chữ ở đồng bằng và trung du miền Bắc ngay từ năm 1958). Sau năm 1975, chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, trước tình trạng nhiều người dân miền Nam vẫn bị mù chữ, chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách Bình dân học vụ và đến cuối tháng 2 năm 1978, toàn bộ 21 tỉnh thành ở miền Nam đã cơ bản thanh toán xong nạn mù chữ.

• Nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn, nạn tham nhũng và "không thể tự nuôi nổi chính mình":

Kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển ổn định dưới thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống trong giai đoạn 1955-1963, sau đó do tác động của chiến tranh leo thang trở nên mất ổn định với những đặc trưng như: tốc độ tăng trưởng kinh tế không đều (có nhiều năm tăng trưởng bị âm), tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt thương mại.

Trong những năm 1958-1968 tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam Cộng hòa (~13.000) hơn hẳn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (~4.000) do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bị chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh trước đó, cộng với sự phá hoại của máy bay Mỹ. Bắt đầu từ 1970-1974 đã Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có sự vượt trội (~11.000) còn Việt Nam Cộng hòa không có dấu hiệu đi lên mà trì trệ, đi xuống (~10.000) (đơn vị: triệu USD, tính theo thời giá 2015) theo tác giả người Nga A.G. Vinogradov.

Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la vào năm 1974, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%.

Trải qua 21 năm, khối lượng viện trợ kinh tế mà Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa là rất lớn, đạt hơn 10 tỷ USD (thời giá thập niên 1960, tương đương 70-80 tỷ USD theo thời giá 2015). Đây là con số viện trợ kinh tế cao nhất của Hoa Kỳ so với bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Nguồn viện trợ Mỹ đã không giải quyết vấn đề cơ bản và cốt lõi nhất của nền kinh tế là sự “tự chủ”, trái lại, nó đã trở thành một loại ma túy nguy hại cho bản thân nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa. Nó tạo ra sự ỷ lại của nền kinh tế, phụ thuộc nặng vào viện trợ và thiếu động lực để tự lực cánh sinh.

Trước năm 1975, ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Năm 1978, chính phủ mới của nước Việt Nam thống nhất đã quốc hữu hóa khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa để chấm dứt sự kiểm soát của họ, thắt chặt kiểm soát nền kinh tế tập trung của mình.

Không hiểu người ta lấy số liệu ở đâu mà cho rằng kinh tế của "Hòn ngọc Viễn đông" hơn hẳn các nước khác trong khu vực trong khi nó còn không bằng cả Campuchia. Mà đến 2020 Việt Nam vẫn phải trả nợ giúp Việt Nam Cộng hòa cho Mỹ. Có kẻ nói rằng Việt Nam Cộng hòa để lại hàng nghìn tấn vàng nhưng thử hỏi ngần ấy tấn vàng có làm cho hàng nghìn người chất độc da cam lành lặn trở lại? Có làm cho hơn 2 triệu Anh Hùng Liệt Sĩ, thanh niên trai tráng sống lại, có thể phục dựng cả nước khỏi đống hoang tàn?

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã từng phát biểu:

“Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!"

Một viên chức than rằng "chiến tranh đã tạo thành “bản giao hưởng toàn quốc của trộm cắp, tham nhũng và hối lộ”.Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình"

Nhà báo Anh David Hotham đã viết:

“Người ta khoe rằng Việt Nam Cộng hòa đã độc lập thật sự, nhưng thật ra không có gì độc lập cả. Một nước làm sao có thể độc lập được khi cả ngân sách của quân đội mình đều do nước ngoài gánh chịu? Một nước làm sao có thể độc lập được khi 80% tiền mua hàng hóa nhập cảng không phải trả bằng tiền bán hàng hóa xuất cảng mà bằng tiền lấy trong ngân khố của Washington”.

• Quân lực "hạng tư thế giới" và nạn đảo ngũ:

Quân lực Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ cung cấp trang bị rất hùng hậu với sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Mỹ và các đồng minh, có nhiều các lực lượng hỗ trợ, bản thân lại có quân số thường trực và chính quy rất đông (tính đến năm 1975 là 1.351.000 quân).

Về chiến lược quân sự, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn). Gregory Daddis nhận xét: Những hành vi tội ác của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khiến người dân xem họ như kẻ thù. Một nông dân kể rằng "Khi quân đội Cộng hòa tới, mọi người trong làng đều bị đe dọa... Quân đội thoải mái đánh đập bất cứ ai, giết bất cứ ai", người khác kể rằng "cứ mỗi lần quân đội Quốc gia tới thì lại càng có nhiều người dân kết thân với Việt cộng". Khi được hỏi tại sao người dân không ủng hộ chính phủ Sài Gòn, một người dân trả lời "vì quân đội Quốc gia... thường xuyên đốt nhà của dân làng và hiếp dâm phụ nữ". Không có cách nào để quân đội Việt Nam Cộng hòa có thể đánh bại đối phương khi mà người dân đã xa lánh họ và quan hệ thân thiết với quân Giải phóng.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ có thể kiểm soát hoàn toàn được khoảng 20-30% dân số miền Nam. Phân nửa lãnh thổ với khoảng 1/3 dân số sống trong vùng tranh chấp. Phần còn lại sống trong những vùng do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam kiểm soát. Ngay trong dân chúng ở vùng do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát, nhiều người cũng không ủng hộ quân đội, ngầm ủng hộ Quân Giải phóng.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trị, tham nhũng quá nhiều, và thiếu ổn định, do đó làm sụt giảm sự ủng hộ và làm xói mòn tinh thần của binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa, kém tinh thần chiến đấu.

Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1965 đến năm 1972, ước tính có khoảng 840.000 binh sĩ đã đào ngũ. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12 năm 1974, có 176.000 lính đào ngũ (trung bình mỗi tháng có 24.000 lính đào ngũ). Tại các lực lượng tinh nhuệ của quân đội, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%). Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam rất ít khi đào ngũ hoặc chịu đầu hàng; họ đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh mục đích cá nhân để cống hiến cho nỗ lực chiến tranh của tập thể.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Clark Cliffords nhận xét:

"...Chỉ cần Quân lực Việt Nam Cộng hòa có được nửa lá gan của người ********, thì ngày hôm nay quân đội Hoa Kỳ có thể duyệt binh ở Hà Nội rồi, Quân đội của các ông chỉ biết bắn giết dân thường, bám theo sau và rút chạy trước, tướng lĩnh thì toàn tham nhũng, toàn hiếp dâm và chỉ giỏi nhảy đầm."

• Một Sài Gòn ô uế bởi nạn "đ. ĩ hợp pháp" để phát triển kinh tế:

Trong giai đoạn 1960-1975, hàng triệu lính viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào Việt Nam. Từ đó nở rộ các những chủ thầu cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho lính Mỹ, những người làm sở Mỹ… đến bọn ma cô, gái điế. M, gái nhảy, gái tắm hơi… Sự phân hóa về kinh tế đó dẫn tới sự đảo lộn các giá trị đạo đức truyền thống.

Người miền Nam thời đó có câu vè: “Thứ nhất sở Mỹ, thứ nhì gái đ. ĩ, thứ ba ma cô, thứ tư tướng tá”. Trong thời kì năm quyền hình ảnh những sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa chở gái ra chiến trường phục vụ tướng lĩnh là một hình ảnh quen thuộc.

Để “giúp vui” cho đạo quân viễn chinh, Mỹ – Thiệu cho phép mở cửa hàng loạt snack bars, phòng tắm hơi, hộp đêm, tiệm nhảy và nhất là nhà chứa, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá Mỹ.

Thị trường mại dâm, gọi một cách nôm na là “chợ heo”, được Mỹ – Thiệu công khai hóa và hợp pháp hóa. Ước tính toàn miền Nam năm 1975 có trên 200.000 gái bán dâm. So với số gái bán dâm bất hợp pháp trên toàn Việt Nam vào năm 2012 thì con số này cao gấp 7 lần, nếu xét về tỉ lệ dân số thì gấp 30 lần.

Một quan chức Sài Gòn còn công khai phát biểu: “Người Mỹ cần gái, chúng ta cần đôla. Tại sao chúng ta phải hạn chế, đó là nguồn thu đôla vô tận”

Năm 1966, từ Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: “Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ điế. m”.

Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: “Tại chợ heo đó, hằng ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng… cho lính Mỹ đến chọn dắt đi. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam”.

• "Kẻ Nghèo" giải phóng "kẻ giàu":

Xin thưa đó là một luận điệu xuyên tạc mà những kẻ phản động vẫn lôi ra đến tận ngày nay, đây là trận chiến đâu chỉ có quân dân miền Bắc mà là cả của quân dân Miền Nam. Họ không muốn sống trong "cái giàu" giả tạo, "cái giàu" viện trợ, "cái giàu" dơ bẩn, "cái giàu" của riêng người Hoa. Có thể tham khảo số liệu ở trên thì ta cũng thấy rằng Việt Nam Cộng Hòa cũng "giàu" như thế nào? Đừng lôi mỗi một góc của Sài Gòn ra khoe, mà hãy rời cái góc ấy ra nhìn vào ngoại thành xem nó ô uế như thế nào.
Khen cho anh cán bộ tốn công copy paste từ nguồn :

Là 1 page tuyên giáo có tiếng và page tuyên giáo này cũng lấy nguồn từ 1 page tuyên giáo khác. Lần sau tốn công copy nhớ để nốt cái fb vào thì nó mới đủ "hồng và chuyên" nhé.
 

Có thể bạn quan tâm

Top