Mày đọc bài viết này để biết vì sao phải chọn Huế. Hơi dài nhưng bổ ích
HUẾ: THẾ TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN CỦA MỘT KINH THÀNH
Tác giả: VŨ ĐỨC LIÊM
Nếu bạn là chúa Nguyễn Phúc Ánh, người vừa thống nhất Việt Nam năm 1802, bạn sẽ chọn vùng đất nào làm kinh đô?
Câu trả lời đương nhiên là Huế. Gia Định là vùng trù phú, cơ sở của việc phục hưng vương triều, nhưng cách Thăng Long gần 2000 km. Phương tiện (gần như duy nhất) để đi từ Sài Gòn ra Bắc là tàu bè trên biển. Trong khi đó, Thăng Long là kinh đô cũ của nhà Lê Trịnh và trung tâm của vùng Bắc Hà, những người coi Nguyễn Phúc Ánh chỉ là một biên thần ‘kém văn minh’ như cách mô tả của Lê Quý Đôn. Những người Bắc Hà sau đó chờ đợi việc chúa Nguyễn sẽ nhanh chóng lập lại vua Lê (Hoàng Xuân Hãn, 1998: 1405). Tuy nhiên, việc Nguyễn Phúc Ánh ‘thất hứa’, lấy lí do là ông giành được ngai vàng từ tay nhà Tây Sơn ‘tiếm ngụy’ chứ không phải nhà Lê đã ngay lập tức làm cho dân chúng vùng châu thổ sông Hồng quay lưng lại với vương triều mới (Đại Nam liệt truyện (ĐNLT), sơ tập, quyển 10). Đó là lí do có các cuộc nổi loạn chống lại nhà Nguyễn ngay sau năm 1802.
Việc chọn Huế làm kinh đô, tuy thế, không đơn giản là ‘tìm về chốn cũ’ mà là một cuộc đấu trí địa-chính trị, địa-quân sự, địa-kinh tế cực kỳ phức tạp. Hệ quả của lựa chọn đó không chỉ là vận mệnh vương triều mà còn là triển vọng của một lãnh thổ Việt Nam vừa mới được thống nhất. Lãnh thổ này sẽ được quản lí từ đâu? Liệu nhà nước tiếp theo ở Việt Nam có bị ‘vỡ vụn’ như Tây Sơn?
Bài viết này không nhằm lên án “sai lầm” địa chính trị của Gia Long. Nó cũng không tìm cách đổ lỗi cho Huế vì những thăng trầm của lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XIX. Điều quan trọng hơn, bài viết chỉ ra khó khăn của người Việt đầu thế kỷ XIX trong việc tìm kiếm cách thức quản trị nhà nước ở Việt Nam, từ việc tìm vị trí đóng đô, cho đến điều hành quân đội, thu thuế, xác lập đơn vị hành chính. Lãnh thổ Việt Nam năm 1802 là một cấu trúc địa chính trị, vùng miền, cư dân, và kinh tế đặc biệt. Liệu nhà Nguyễn sẽ tìm kiếm một hình dung lãnh thổ mới hay tuân theo các tri thức và thói quen địa chính trị của chúa Nguyễn để áp đặt nó lên một Việt Nam thống nhất. Quyết định này không chỉ phản ánh tri thức của thời đại, cán cân quyền lực vùng miền mà còn là sự tự tin của Nguyễn Phúc Ánh và cách thức ông nhận thức về tính chính thống và khả năng quân sự của mình. Nói cách khác, nó gợi mở về câu hỏi Nguyễn Phúc Ánh đã chọn con đường nào cho Việt Nam?
Tôi đã lập luận rằng thất bại lớn nhất của Tây Sơn không phải là sự chia rẽ, hay quyền thần, hay vua nhỏ, hay tổ chức hậu cần… mà ở chỗ các chính quyền Tây Sơn chưa phác thảo một bản đồ tác chiến cho toàn Việt Nam. Vì điểm này, Tây Sơn hoàn toàn lúng túng trong việc đưa ra một giải pháp quân sự hữu hiệu trên toàn bộ lãnh thổ mà họ kiểm soát, liên quan đến chuyển quân, tuyển lính, dịch chuyển các trung tâm quân sự, tổ chức phòng thủ và yểm trợ lẫn nhau khi cần thiết (Vũ Đức Liêm, BBC, 2018). Các chiến dịch theo mùa gió nồm của Nguyễn Phúc Ánh chính là đã đánh trúng điểm yếu này, làm cho Tây Sơn hoàn toàn lúng túng, bị động trong cả một thập kỷ để tìm cách đối phó bằng cách kéo dãn lực lượng quân sự trên vùng duyên hải khoảng 800 km từ Diên Khánh đến Đồng Hới (Vũ Đức Liêm 2017; Đại Nam thực lục (ĐNTL), I, 6: 1a-b).
Sau chiến thắng đó, việc đóng đô ở Huế, không phủ nhận, được coi là “tối ưu” từ cái nhìn của nhà Nguyễn. Tuy nhiên, chính điều này đã gây ra khó khăn lớn trong việc quản trị nhà nước ở Việt Nam bởi vì Huế thích hợp là thủ phủ của một vùng hơn là kinh đô của một nước. Huế là trung tâm của chính quyền Đàng Trong khoảng hai thế kỷ, và việc lựa chọn vùng đất này bản thân nó là hệ quả của một quyết định khó khăn của các chúa Nguyễn thuở ban đầu. Huế là kinh đô cũ của dòng họ, nơi Nguyễn Phúc Ánh có chỗ dựa cũng như cơ sở hành chính. Tuy nhiên khi lãnh thổ đã kéo dài ra hơn 2000 km về phía Bắc và Nam thì kinh đô này nhanh chóng bộc lộ hai điểm yếu quan trọng.
* HAI ĐIỂM YẾU QUAN TRỌNG
- Thứ nhất là khung cảnh tự nhiên chật hẹp và vị trí địa lý bị cô lập.