[NSFW] Topic thảo luận, sưu tầm tình hình căng thẳng Trung Quốc - Đài Loan

Mỹ đàm phán hợp tác sản xuất vũ khí với Đài Loan​

 
Mỹ đứng trước áp lực chưa từng có trong chiến lược mơ hồ về Đài Loan

Sau chuyến thăm khảo sát đến Đài Loan Giám đốc An ninh Quốc gia Mỹ Guy Taylor đã công bố 3 bài phân tích tình hình ở eo biển Đài Loan, trong đó tập trung vào phân tích vấn đề của Mỹ về chính sách “một Trung Quốc” và chiến lược mơ hồ trước sức ép chưa từng có đối với cả hai bờ Thái Bình Dương.


Ông Taylor nhận thấy, việc Đảng Cộm sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thường xuyên đe dọa thôn tính Đài Loan và có thể dùng vũ lực quân sự khi cần đã tạo ra căng thẳng cao ở Đài Loan, đồng thời làm dấy lên tranh luận ở Washington về chính sách “mơ hồ chiến lược” mà lâu nay Mỹ áp dụng sẽ bảo vệ Đài Loan dân chủ như thế nào để không bị xâm lược.

Về việc Tổng thống Mỹ Biden trước đó phản ứng trước các cuộc tập trận quân sự gia tăng của ĐCSTQ gần Đài Loan, nói rằng quân đội Mỹ sẽ bảo vệ Đài Loan trong trường hợp xảy ra “cuộc tấn công chưa từng có tiền lệ”, một số người cho rằng tuyên bố đánh dấu kết thúc chính sách “mơ hồ chiến lược” của Mỹ. Liên quan động thái này, cả Bắc Kinh và Washington đều cáo buộc nhau đơn phương cố gắng thay đổi hiện trạng.

Tuy nhiên Nhà Trắng sau đó đã làm rõ rằng “chính sách của Mỹ không thay đổi”, khiến không ít người chỉ trích ông Biden chỉ đang khiến vấn đề thêm mơ hồ trong khi cần thể hiện rõ quan điểm, đặc biệt là trong bối cảnh Bắc Kinh đang không ngừng đe dọa.

Một cuộc tranh luận song song đang diễn ra ở Đài Loan, các quan chức thường thừa nhận riêng tư rằng họ muốn Chính phủ Đài Loan tích cực hơn trước cộng đồng quốc tế trong việc khẳng định Đài Loan hoàn toàn độc lập, nhưng đồng thời lo ngại động thái sẽ kích động Bắc Kinh dùng vũ lực. Hệ quả là gần 24 triệu người Đài Loan phải sống trong tình cảnh bấp bênh của trật tự quốc tế từ khi Đài Loan tách khỏi Đại Lục năm 1949.

Bài viết chỉ ra, một mặt thì Đài Loan hoạt động hiệu quả như một quốc gia độc lập có Chính phủ riêng được dân cử và có nền kinh tế thịnh vượng hàng đầu thế giới; mặt khác Đài Loan cũng chấp nhận nguyên trạng hàng thập kỷ mà ĐCSTQ tuyên bố quyền tài phán của họ trong bối cảnh hầu hết các nước trên thế giới bao gồm cả Mỹ về mặt kỹ thuật không công nhận Đài Loan là độc lập với Trung Quốc.

Tên chính thức của Đài Loan là “Trung Hoa Dân Quốc”, hầu hết người Đài Loan tin rằng ưu tiên hàng đầu là tránh xung đột với Bắc Kinh.

Người phát ngôn Lily Hsu của Bộ Ngoại giao Đài Loan ước tính, khoảng 6% người Đài Loan sẽ lập tức ủng hộ nền độc lập, nhưng khoảng 85% sẽ ủng hộ việc duy trì hiện trạng. Bà nói với các phóng viên quốc tế: “Chính phủ và người dân Đài Loan không cần khôi phục độc lập vì chúng tôi đã là một quốc gia độc lập. Chúng tôi có Chính phủ được bầu cử tự do, các nước khác cũng như các cơ quan Liên Hợp Quốc cần xem xét lại vấn đề này”.

Tăng cường đối đầu
Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang cao đến mức nhạy cảm kể từ khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi thăm Đài Loan vào đầu tháng 8. Khi đó Bộ Ngoại giao ĐCSTQ nói rằng động thái của bà Pelosi “tác động nghiêm trọng đến nền tảng chính trị của quan hệ Trung – Mỹ”, “gửi tín hiệu sai lầm nghiêm trọng tới các lực lượng ly khai thúc đẩy ‘Đài Loan độc lập’”. Trước đó, lãnh đạo ĐCSTQ Tập Cận Bình đã trực tiếp kêu gọi Tổng thống Mỹ Biden hủy chuyến thăm của Pelosi và phái đoàn.

Chính quyền Tổng thống Biden cam kết thực hiện chính sách “một Trung Quốc”, theo đó Washington từ lâu đã thừa nhận quan điểm của ĐCSTQ rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc, nhưng thực tế là Mỹ vẫn duy trì quan hệ ngoại giao không chính thức và quan hệ quốc phòng thực chất với Đài Loan.

Đài Loan có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Mỹ. Các công ty Mỹ có mối liên hệ chặt chẽ với Đài Loan là nơi có nhà sản xuất chip bán dẫn hàng đầu thế giới, không chỉ quan trọng trong hoạt động sản xuất dân dụng toàn cầu (từ điện thoại thông minh đến máy tính xách tay, tủ lạnh….), mà ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ cũng phụ thuộc vào Đài Loan.

Hồi tháng 5/2022, Chính phủ Mỹ đã công bố báo cáo, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành công nghiệp bán dẫn Đài Loan. Cho dù từ chối trách nhiệm trong vấn đề nhà chức trách Mỹ “không ủng hộ Đài Loan độc lập”, nhưng họ “hy vọng chia rẽ giữa hai bờ eo biển được giải quyết hòa bình”. Ngoài ra, Washington tiếp tục “phản đối mọi đơn phương thay đổi đối hiện trạng”.

Có phân tích cho rằng những luận điệu như vậy là cơ sở cho chính sách “mơ hồ chiến lược” của Mỹ vốn bắt nguồn từ chính sách “một Trung Quốc” của Washington khác với nguyên tắc “một Trung Quốc” của ĐCSTQ.

Bắc Kinh và Washington đã không thể có được đồng thuận về vấn đề này kể từ chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972 mở đường cho quan hệ ngoại giao chính thức Mỹ – Trung. Năm 1979, trong quá trình công nhận ngoại giao từ Đài Bắc đến Bắc Kinh, chính quyền Tổng thống Carter khi đó đã từ chối yêu cầu của ĐCSTQ đề nghị Mỹ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan.

Theo một phân tích năm 2017 của tổ chức tư vấn Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, phía Mỹ đã không đồng ý khi ĐCSTQ thay đổi văn bản trong văn kiện ngoại giao tiếng Trung liên quan Đài Loan thành “công nhận” [Đài Loan thuộc Trung Quốc]. Khi đó Thứ trưởng Warren Christopher phát biểu trước phiên điều trần tại Thượng viện rằng phía Mỹ “xem văn bản tiếng Anh là văn bản có sức ràng buộc”.

Tiếp theo là việc vào năm 1979 thông qua “Đạo luật Quan hệ Đài Loan”, theo đó quy định Washington “sẽ cung cấp cho Đài Loan vũ khí phòng thủ và Mỹ sẽ bảo đảm chống lại bất kỳ biện pháp cưỡng bức nào hoặc bằng cách nào khác có thể gây nguy hiểm cho an ninh cũng như hệ thống kinh tế hoặc xã hội của người dân Đài Loan”.

Nhưng tính mơ hồ trong chính sách của Mỹ vẫn vậy vì luật không quy định rõ ràng rằng quân đội Mỹ sẽ can thiệp quân sự trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công vào Đài Loan.

Tổng thống Biden đang chịu áp lực phải làm rõ các chính sách của mình trong bối cảnh gia tăng lo ngại ĐCSTQ đang công khai chuẩn bị cho các cuộc tấn công như vậy đối với Đài Loan.

Tổng thống nói với CBS vào tháng trước, chính quyền của ông “có chính sách với Trung Quốc, còn Đài Loan có quan điểm riêng về nền độc lập của Đài Loan. Chúng tôi không thay đổi – chúng tôi không khuyến khích họ độc lập… Đó là quyết định của họ”.

Khi được hỏi cụ thể liệu quân đội Mỹ có bảo vệ đảo Đài Loan hay không, ông Biden trả lời: “Có, nếu thực tế xảy ra một cuộc tấn công chưa từng có”.

Ngay sau đó, các quan chức Nhà Trắng tái khẳng định, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan không thay đổi.

Trong năm nay Tổng thống Biden đã ba lần bày tỏ rằng Mỹ sẽ hỗ trợ Đài Loan về mặt quân sự nếu Trung Quốc xâm lược đảo quốc này, trong khi Nhà Trắng liên tục phủ nhận cáo buộc rằng chính sách của Mỹ đối với Đài Loan đã thay đổi.

Cố ý mơ hồ?
Bài viết tiếp tục chỉ ra cách tiếp cận của chính quyền Biden đã bị chỉ trích vì làm cho các đồng minh và đối thủ không rõ về chính sách thực tế của Mỹ. Cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo cáo buộc ông Biden đã đưa ra “phát ngôn mơ hồ” về chính sách của Washington. “Sự mơ hồ trong chính sách của Mỹ đến giờ thậm chí còn mơ hồ hơn”, ông Pompeo nói trong chuyến đi đến Đài Loan vào tháng 9.

Hồi tháng 7, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper phát biểu tại Đài Loan rằng chính sách “một Trung Quốc” của Mỹ đã lỗi thời.

Nhưng không phải ai cũng đồng ý với luận điểm đó.

Ông Andrew Scobell của Viện Nghiên cứu Hòa bình Mỹ (USIP) nhìn nhận, sự mơ hồ lâu nay của Washington về vấn đề Đài Loan về mặt chiến lược đã khiến ĐCSTQ không chắc chắn về những gì Mỹ sẽ làm. Ngược lại nếu rõ ràng chiến lược sẽ đưa Mỹ và ĐCSTQ đến gần hơn đối đầu quân sự. Ông nhận định, Washington nên thận trọng trong việc từ bỏ chính sách mơ hồ chiến lược này.

Ông nói: “Ông Nixon và ông Kissinger tỏ ra nhón gót về vấn đề này và cứ lấp lửng rằng, ‘Chúng tôi thừa nhận Trung Quốc (ĐCSTQ) có quan điểm rằng họ nghĩ chỉ có một Trung Quốc’, nhưng chúng tôi chưa bao giờ nói rằng phía Mỹ chúng tôi đồng ý.” Ông tiếp tục: “Lập luận của Trung Quốc là Mỹ đã luôn lừa dối và giả vờ đồng ý với quan điểm của Bắc Kinh, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm của Mỹ là chúng tôi thừa nhận lập trường của họ, điều đó phụ thuộc vào chính sách không thù địch của Trung Quốc đối với Đài Loan.”

Chính phủ Thái Anh Văn của Đài Loan đang theo dõi chặt chẽ cuộc tranh luận ở Mỹ, Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn thường nhấn mạnh Đài Loan là “quốc gia độc lập” và kêu gọi các nền dân chủ phương Tây ủng hộ điều đó, mặc dù bà cũng tránh thúc đẩy việc tuyên bố độc lập chính thức. Ngoại trưởng Đài Loan Joseph Wu (Ngô Chiêu Nhiếp) gần đây tiết lộ, có rất nhiều cuộc tranh luận ở Washington về sự rõ ràng hay mơ hồ chiến lược đối với Đài Loan, nhưng cả hai xu thế đều theo quan điểm ủng hộ Đài Loan, vì vậy cả hai bên đều được tán dương.

Nhưng người phát ngôn Lily Hsu của Bộ Ngoại giao Đài Loan và Chủ tịch Charles Lee của Liên minh Liên Hiệp Quốc – Đài Loan (TAIUNA) cho rằng Mỹ có thể làm được nhiều hơn thế, chẳng hạn như chính thức công nhận Đài Loan là một quốc gia và giúp Đài Loan gia nhập Liên Hợp Quốc.
 
Cựu quan chức ngoại giao hàng đầu Singapore nói rằng Bắc Kinh đã tính toán sai về sự suy yếu của Mỹ.

Tại đại hội toàn quốc của Đảng Cộm sản Trung Quốc khai mạc vào ngày 16/10, Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ cố gắng kéo dài nhiệm kỳ của mình với tư cách là nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước.

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã thay đổi đáng kể sau 10 năm cầm quyền của ông, chuyển sang một lập trường tự tin và quyết đoán hơn so với những người tiền nhiệm.

Nikkei Asia vừa có cuộc trò chuyện với cựu đại sứ Bilahari Kausikan, nguyên thư ký thường trực Bộ Ngoại giao Singapore, về phong cách của nhà lãnh đạo Trung Quốc và diễn biến tình hình căng thẳng Mỹ-Trung trong những năm tới.

Kausikan cũng từng là đại diện thường trực của Singapore tại Liên Hiệp Quốc và đại sứ tại Nga. Ông hiện là Chủ tịch Viện Nghiên cứu Trung Đông tại Đại học Quốc gia Singapore.

Dưới đây là bản biên tập của cuộc phỏng vấn.

https%253A%252F%252Fs3-ap-northeast-1.amazonaws.com%252Fpsh-ex-ftnikkei-3937bb4%252Fimages%252F_aliases%252Farticleimage%252F5%252F1%252F3%252F4%252F42574315-3-eng-GB%252FCropped-1665472264Photo%2520-%2520Bilahari%2520Kausikan.jpg
Đại sứ Bilahari Kausikan
Hỏi: Ông đánh giá chính sách đối ngoại của Tập Cận Bình như thế nào?

Đáp:
Trung Quốc đã phạm phải ba sai lầm rất cơ bản. Sai lầm lớn đầu tiên là họ đã từ bỏ cách tiếp cận ‘ẩn mình chờ thời’ của Đặng Tiểu Bình quá sớm. Điểm khởi đầu là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nó dẫn đến sự khoe khoang quá mức. Đây là một sai lầm không thể sửa chữa bởi một khi anh đã khoe khoang, thì sau đó, dù anh có im lặng đi chăng nữa, mọi người vẫn sẽ không quên những gì anh đã nói.

Sai lầm thứ hai cũng xảy ra vào khoảng năm 2008. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực sự bắt đầu tin vào tuyên truyền của họ. Họ cho rằng Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung đang trên đà suy yếu tuyệt đối và không thể phục hồi được. Mỹ có thể đang suy yếu một cách tương đối và họ có rất nhiều vấn đề, đó là sự thật. Nhưng sự suy yếu ở đây là tương đối, không phải tuyệt đối.

Khoảng một tháng trước, Giáo sư Đại học Bắc Kinh Vương Tập Tư (Wang Jisi) đã trả lời một cuộc phỏng vấn, trong đó ông đưa ra một lập luận rất quan trọng. Ông nói rằng đừng tin là Mỹ đang suy yếu tuyệt đối; Mỹ chỉ suy giảm tương đối so với Trung Quốc vì Trung Quốc đang phát triển; Mỹ vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối so với các nước lớn khác.

Vương rất dũng cảm khi dám nói ra điều đó, bởi vì nó mâu thuẫn trực tiếp với những gì sếp của ông đã nói – rằng phương Đông đang trỗi dậy.

Sai lầm thứ ba là mối quan hệ đối tác ‘không giới hạn’ với Nga. Nga sẽ là ‘cục nợ vĩnh viễn’ đối với Trung Quốc. Nga sẽ ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Trung Quốc có thể có được một phần năng lượng giá rẻ, nhưng như chúng ta thấy, Trung Quốc đang lo lắng về việc bị vướng vào rắc rối ở thời điểm có quá nhiều vấn đề kinh tế trong nước và tăng trưởng đang chậm lại.

Đó là những sai lầm lớn về vĩ mô.

Hỏi: Là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, ông nhận xét thế nào về đường lối ngoại giao chiến lang của Bắc Kinh?

Đáp:
Các nhà ngoại giao nên biết cứng rắn nếu cần, để đạt được mục tiêu của họ. Ngoại giao không phải chỉ là làm người tốt và lịch sự. Đây là điều tôi thường nói với các nhà ngoại giao trẻ của đất nước mình. Công việc của các bạn là thúc đẩy lợi ích quốc gia của Singapore. Tất nhiên, hãy cứ tốt bụng và lịch sự, nhưng nếu bắt buộc thì vẫn phải cứng rắn, sử dụng bất kỳ phương tiện nào cần thiết, ngay cả khi điều đó có nghĩa là bạn trở thành kẻ xấu. Nhưng vấn đề là các bạn làm vậy để thúc đẩy mục tiêu của mình.

Đối với ngoại giao chiến lang, tôi không thấy có lợi ích nào của Trung Quốc được thúc đẩy. Thực tế thì, tôi nghĩ rằng những lợi ích đó còn bị thiệt hại. Tuy nhiên, các chiến lang thực ra đang nói chuyện với những người ngồi ở Bắc Kinh, chứ không nhất thiết là với người ngoài.

https%253A%252F%252Fs3-ap-northeast-1.amazonaws.com%252Fpsh-ex-ftnikkei-3937bb4%252Fimages%252F_aliases%252Farticleimage%252F6%252F7%252F0%252F8%252F42588076-3-eng-GB%252FCropped-166554122220221012%2520PELOSI%2520in%2520Taipei.JPG
Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi thăm Quốc hội Đài Loan ở Đài Bắc, vào ngày 3/8. © Reuters
Hỏi: Khi Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi đến thăm Đài Loan, nhóm diều hâu – với đại diện là các nhà ngoại giao chiến lang – đã khiến nhiều công dân Trung Quốc mong đợi một hành động nào đó nhắm vào máy bay của Pelosi, điều đó rất nguy hiểm. Ông nghĩ thế nào về chuyện này?

Đáp:
Pelosi có nên đến thăm Đài Loan hay không là một vấn đề khác. Chuyến đi của bà không đạt được điều gì, ngoại trừ việc kích động nhiều cảm xúc. Nhưng anh nói đúng, xung đột có thể tình cờ xảy ra. Khi anh kích động quần chúng thì đến một lúc nào đó, anh sẽ thấy mình mắc kẹt trong những lời tuyên truyền của chính anh. Nếu anh không đáp ứng được kỳ vọng của mọi người, anh sẽ trông như một kẻ yếu thế.

Hỏi: Liệu căng thẳng Mỹ-Trung có sẽ là tin tức chủ đạo trong 10 năm tới?

Đáp:
Anh vừa nói là 10 năm. Còn tôi nghĩ sẽ lâu hơn thế nữa. Căng thẳng Mỹ-Trung sẽ là đặc điểm cấu trúc mới, làm tâm điểm cho các quan hệ quốc tế. Ví dụ tương tự là tình quan hệ quốc tế đã xoay quanh quan hệ Mỹ-Xô suốt hơn 40 năm trong Chiến tranh Lạnh. Nhưng tôi cho rằng quan hệ Mỹ-Trung phức tạp hơn quan hệ Mỹ-Xô.

Tôi không thích thuật ngữ ‘Chiến tranh Lạnh mới.’ Nó thể hiện sai bản chất của mối quan hệ này. Mỹ và Liên Xô từng dẫn đầu các hệ thống riêng biệt, và đó là cuộc cạnh tranh giữa các hệ thống. Về cơ bản, đó là một cuộc cạnh tranh nhị phân, A hoặc B. Hai hệ thống gần như không có kết nối với nhau.

Trong mối quan hệ Mỹ-Trung, cả hai nước đều là những bộ phận quan trọng của một hệ thống duy nhất. Họ được kết nối với nhau, và với Nhật Bản, Singapore, châu Âu, cũng như với tất cả các quốc gia khác, thông qua một hiện tượng mới – đó là chuỗi cung ứng với mức độ phức tạp và phạm vi mà tôi không nghĩ rằng chúng ta đã từng chứng kiến trong lịch sử.

Với tôi, rất khó để tin rằng mạng lưới này có thể tách thành hai hệ thống riêng biệt. Sẽ có sự tách biệt một phần. Nó đã xảy ra trong lĩnh vực công nghệ, internet, nhưng tôi không nghĩ sẽ có sự tách biệt hoàn toàn. Cái giá là quá đắt.

Tôi có thể cho anh một ví dụ. Chúng ta đều biết chất bán dẫn là một điểm yếu lớn của Trung Quốc. Và tôi nghĩ người Trung Quốc sẽ rất, rất khó để bắt kịp. Thậm chí tôi có thể nói rằng Trung Quốc gần như không thể bắt kịp với các công nghệ cao cấp vì ranh giới phân loại vẫn đang dịch chuyển. Những gì được xem là cao cấp ngày hôm nay sẽ không còn là cao cấp sau một năm nữa.

Tuy nhiên, lý do cơ bản khiến họ rất khó bắt kịp và phải mất rất nhiều thời gian để bắt kịp là tất cả hoặc hầu hết các bộ phận quan trọng nhất của chuỗi cung ứng đều do Mỹ, bạn bè, hoặc đồng minh của Mỹ kiểm soát. Một số loại vật liệu, một số loại hóa chất đang nằm trong tay Nhật Bản. Các loại máy công cụ để thiết kế là của người Hà Lan. Các loại máy công cụ khác lại thuộc về các nước châu Âu khác. Các nhà chế tạo chất bán dẫn lớn đang nằm ở Đài Loan, Hàn Quốc, và Mỹ. Và còn rất nhiều bộ phận nhỏ lẻ khác, và những bộ phận quan trọng nhất do Mỹ kiểm soát

Mặt khác, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ 40% sản phẩm bán dẫn. Làm sao có thể cắt giảm 40% sản lượng của công ty mà không gây ra tổn hại nghiêm trọng? Cạnh tranh trong cùng một hệ thống khó hơn nhiều so với cạnh tranh giữa các hệ thống. Anh chỉ cần cắt kết nối của Liên Xô với mọi thứ. Nhưng anh thực sự không thể làm điều đó với Trung Quốc. Anh cần phải phân định rõ ràng hơn.

Thứ hai, tôi không nghĩ rằng cuộc cạnh tranh sẽ kết thúc một cách rõ ràng. Tại sao? Bởi vì người Trung Quốc có thể muốn thống trị hệ thống duy nhất này, còn người Mỹ muốn duy trì sự thống trị của mình. Nhưng không ai trong số họ muốn phá hủy nước còn lại, bởi vì tiêu diệt một bên đồng nghĩa với phá hủy toàn bộ hệ thống, và cái giá phải trả sẽ rất đắt.

Thế nên cạnh tranh Mỹ-Trung sẽ kéo dài hơn nhiều so với Chiến tranh Lạnh, đó là điểm mấu chốt. Chúng ta sẽ phải học cách sống chung với nó.

Hỏi: Chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang chuẩn bị sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và sàng lọc đầu tư để Trung Quốc không đuổi kịp và vượt qua Mỹ về các công nghệ chủ chốt. Ông nghĩ sao về điều này?

Đáp:
Giờ đây, chúng ta phải cẩn trọng xem xét loại chất bán dẫn nào mình sẽ bán cho Trung Quốc. Anh chỉ nên bán cho Trung Quốc loại chất bán dẫn chỉ có thể dùng trong máy giặt. Điều đó tốt thôi, tại sao lại không? Nhưng đừng bán cho họ những thứ có thể được sử dụng trong tên lửa dẫn đường chính xác. Mọi chuyện sẽ trở nên rất, rất phức tạp. Rất, rất kỹ thuật. Từng trường hợp phải được nghiên cứu kỹ càng.

Điều tôi đã nghe từ các công ty công nghiệp – bao gồm các công ty công nghiệp Nhật Bản và các công ty công nghiệp Đức – là dù họ vẫn làm việc ở thị trường Trung Quốc, nhưng họ sẽ không ngây thơ. Không thể nói rằng, ‘Tất cả các công ty Nhật Bản sẽ quay về Nhật Bản, sẽ đến Singapore, Việt Nam.” Điều đó chỉ đơn giản là không thể. Ngay cả khi anh muốn làm điều đó, sẽ phải mất rất nhiều năm. Đó không phải là việc có thể được thực hiện nhanh chóng.
 
tao nghĩ ko xoá đâu
bao nhiêu tư liệu, lẫn lịch sử diễn biến cuộc chiến đều cập nhật đầy đủ ở đấy
đó là tư liệu quý mà bọn mày tìm khắp nơi đéo có đâu
Sau này ai muốn làm phim tài liệu về cuộc chiến đó chỉ cần lội 2 thớt kia bao chuẩn chỉ thông tin
 
Đại hội lần thứ 20 của Đảng CSTQ đã khai mạc ngày 16/10/2022 với bài diễn văn dài hai tiếng của Tập Cận Bình. Ông sẽ tiếp tục nhiệm kỳ thứ ba sau khi xóa bỏ luật chơi của đảng do Đặng Tiểu Bình xác lập. Trung Quốc đã trỗi dậy thành siêu cường kinh tế lớn thứ hai, bành trướng và bắt nạt các nước khu vực, thách thức Mỹ với ý đồ thay đổi trật tự thế giới. Xu hướng cực đoan và tham vọng quá lớn của Tập ẩn chứa rủi ro và nguy cơ khó lường.

Sau đại hội 19, đại hội 20 là một cơ hội mới để Tập Cận Bình thực hiện tham vọng phục hưng Trung Quốc. Nhưng các diễn biến gần đây với các bài học của chiến tranh Ukraine cũng như suy giảm kinh tế của Trung Quốc sau đại dịch với mức tăng trưởng GDP tụt xuống chỉ còn 3,2% năm 2022, chắc sẽ làm lãnh đạo Trung quốc phải tính toán lại về chính sách để đối phó với rủi ro và thách thức trong một thế giới biến động khó lường.

Đại hội 20 của Đảng CSTQ có những điều chỉnh gì về nhân sự lãnh đạo cũng như chính sách trước tình hình mới? Các điều chỉnh đó sẽ tác động thế nào đến cục diện khu vực và thế giới? Trước những biến động khó lường gần đây, các câu hỏi đó khó có lời giải rõ ràng, không chỉ với giới nghiên cứu bên ngoài mà còn đối với lãnh đạo Trung Quốc. Nói cách khác, đại hội 20 là “thời điểm then chốt” đối với Tập Cận Bình.

Hoàng đế Trung Hoa

Đại hội 20 của Đảng CSTQ không chỉ khẳng định nhiệm kỳ thứ ba của Tập Cận Bình với vai trò lãnh đạo suốt đời như hoàng đế Trung Hoa, mà còn thông qua các quyết định để sắp xếp lại nhân sự lãnh đạo chủ chốt và các chủ trương lớn của Trung Quốc trong giai đoạn mới dưới thời Tập Cận Bình. Vì vậy, có thể nói đại hội đảng lần thứ 20 là đại hội của Tập Cận Bình.

Theo các học giả, mỗi khi Trung Quốc phục hưng trỗi dậy thường có một hoàng đế mới. Đại hội này sẽ xóa bỏ quy định về giới hạn tuổi và nhiệm kỳ của lãnh đạo mà Đặng Tiểu Bình đã xác lập cơ chế “lãnh đạo tập thể” sau thời kỳ Mao Trạch Đông. Đại hội lần này sẽ khẳng định nhiệm kỳ thứ ba của Tập để cầm quyền tới năm 2027 và có thể là vô hạn. Vì vậy, đại hội 20 giống lễ đăng quang hơn là một đại hội của Đảng CSTQ.

Theo Minxin Pei, Tập Cận Bình đã quyết định xóa bỏ những luật lệ và quy định từ thời Đặng Tiểu Bình về giới hạn tuổi và nhiệm kỳ của lãnh đạo Trung Quốc. Đặng hiểu rằng những quy định đó là thiết yếu để tránh lặp lại những bài học dưới thời Mao. Nhưng lòng tin của Đặng không thể vượt qua lợi ích. Hệ thống thể chế của Đặng trong thập niên 1980 nay trở thành “lâu đài bằng giấy”.

Nếu sự cân bằng và kiểm soát theo hiến pháp thất bại như dưới thời Trump tại Mỹ, các nền dân chủ vẫn có thể dựa vào tự do ngôn luận, xã hội dân sự, và đảng đối lập để đối phó. Nhưng trong chế độ độc tài, các luật lệ và quy định mong manh hơn nhiều. Quyết định của Tập tại đại hội 20 “chỉ là làn gió kích động sự sụp đổ không tránh khỏi”.

Trong nhiều thế kỷ, các triều đại Trung Hoa đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Đông Á. Xét nhiều khía cạnh, lãnh đạo Trung Quốc ngày nay giống một hoàng đế Trung Hoa hơn là một nhà cách mạng Mac-xít. Tập Cận Bình có tham vọng phục hưng Trung Quốc như một cường quốc thống trị Châu Á, như hạt nhân của hệ thống lấy Trung Quốc làm trung tâm kiểu mới mà về bản chất cũng tương tự như vị trí hoàng đế Trung Hoa.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc thời nay khớp với sự phục hưng Trung Hoa thời xưa. Tập đã khởi xướng “Giấc mộng Trung Hoa” để phục hưng đất nước theo mô hình đó. Tập muốn kết hợp văn minh Trung Hoa thời xưa với thành quả thời nay để chế độ ******** của ông có đặc quyền nước lớn. Tập lập luận rằng lịch sử 5.000 năm của Trung Quốc cùng với sự phát triển thần kỳ gần đây là bằng chứng rằng Trung Quốc lãnh đạo thế giới.

Ngoại trưởng Vương Nghị vào tháng 4/2022 đã tuyên bố rằng họ có “lời giải cho các vấn đề của thời đại” và “cống hiến trí tuệ của Trung Quốc cho nỗ lực của loài người”. Trên thực tế, Tập Cận Bình đã điều hành như một hoàng đế. Dưới thời Tập, chính phủ mang sắc thái của một triều đình phong kiến và Tập điều hành đối ngoại cũng giống một hoàng đế.

Triều đình nhìn nhận thế giới theo trật tự do Trung Quốc đứng đầu. Bất cứ nước nào chống lại trật tự đó và không tuân theo luật lệ của Trung Quốc sẽ bị trừng phạt kinh tế, như mất quyền tham gia thị trường Trung Quốc. Tập đã cố gắng áp đặt luật lệ về ngoại giao để lập ra một trật tự thế giới mới mà Trung Quốc nằm ở trung tâm. Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) mang dấu ấn của Tập cũng gần giống hệ thống triều cống thời xưa.

Tập Cận Bình đã chủ trì hai hội nghị quốc tế về BRI mà nguyên thủ các nước đến Bắc Kinh để chầu giống như hệ thống triều cống thời xưa. Theo Michael Sobolik, tác giả của một cuốn sách về “Vành đai và Con đường”, sáng kiến này là ván cờ của Trung Quốc để làm điều mà Trung Quốc đã từng làm hàng ngàn năm qua: kết hợp vị thế địa chiến lược với nền văn minh Trung Hoa.

Tuy Đại hội 20 sẽ tiếp tục lấp đầy đội ngũ lãnh đạo của đảng bằng những người trung thành với Tập, nhưng ông là một “hoàng đế không có người kế vị”. Đây là thời kỳ tranh chấp bất ổn vì nhiều quan chức sẽ tranh nhau để kế vị Tập. Chính sách sẽ ngày càng khó lường vì lời hoàng đế nói ra là luật lệ. Với ngôi vị Thiên tử, Tập sẽ theo đuổi một trật tự khu vực mà các nước láng giềng sẽ trở thành chư hầu.

Nói cách khác, Tập Cận Bình phải đương đầu với nhiều thách thức khó lường trong nước và ngoài nước. Điểm yếu lớn nhất của ông là khả năng nắm bắt về kinh tế kém do chủ quan và cực đoan. Chính sách “zero Covid” của Tập và cách điều hành kinh tế đang dẫn đến trì trệ và suy thoái. Ngoài ra, các cuộc thanh trừng thường xuyên tại các cấp trong đảng dẫn đến tình trạng ân oán và bất mãn trong nội bộ, làm cho ông cảm thấy bất an hơn.

Theo Kerry Brown, Trung Quốc quá phức tạp, quá lớn và quá tư bản để tránh được đa nguyên về chính trị. Nhưng Tập Cận Bình đã dẫn dắt Trung Quốc đi theo hướng ngược lại. Kết cục là ông cũng trở thành “tù nhân của đảng” khi tìm mọi cách để phục hưng vai trò nước lớn của Trung Quốc theo đúng nghĩa của từ từ này.

Kịch bản về nhân sự

Đại hội 20 chắc chắn sẽ khẳng định Tâp Cận Bình tiếp tục lãnh đạo nhiệm kỳ thứ ba, và chắc chắn Trung Quốc sẽ tiếp tục xu hướng độc tài về đối nội và cực đoan về đối ngoại. Đó là xu hướng chiến lược khó lòng thay đổi. Nhưng các diễn biến khó lường gần đây trên thế giới cũng như trong nước, về an ninh cũng như về kinh tế, sẽ buộc Trung Quốc phải tính toán lại và điều chỉnh chính sách linh hoạt hơn để đối phó với tình huống.

Theo quy định về tuổi, Lý Khắc Cường (67 tuổi), Uông Dương (67 tuổi), Vương Hỗ Ninh (67 tuổi) và Triệu Lạc Tế (65 tuổi) có thể ở lại Ban Thường vụ, nhưng Lật Chiến Thư (72 tuổi) và Hàn Chính (68 tuổi) đến tuổi nghỉ hưu. Ứng viên hàng đầu cho hai ghế trống trong Ban Thường vụ là Trần Mẫn Nhĩ (62 tuổi) Hồ Xuân Hoa (59 tuổi).

Nếu Lý Khắc Cường thôi giữ chức thủ tướng Trung Quốc thì người có khả năng kế nhiệm là Uông Dương, một nhà cải cách có năng lực. Hồ Xuân Hoa là người có đủ điều kiện làm phó thủ tướng để có thể kế nhiệm ghế thủ tướng vào năm 2027. Theo giới quan sát, Trần Mẫn Nhĩ và Hồ Xuân Hoa được xác định là hai ứng viên duy nhất có khả năng thay thế vị trí Tổng Bí thư Đảng CSTQ và Thủ tướng Quốc vụ viện vào năm 2027-2028.

Theo Cheng Li, trước những thách thức về đối nội cũng như đối ngoại “chưa từng có”, tại đại hội lần này Tập Cận Bình sẽ xóa bỏ các luật lệ và quy định trước đây, trực tiếp quyết định về nhân sự của Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Lật Chiến Thư chắc sẽ nghỉ và giữ chức Phó Chủ tịch nước như Vương Kỳ Sơn trước đây.

Đáng tiếc là các nhà cải cách như Lý Khắc Cường và Lưu Hạc đã điều hành kinh tế trong thập niên vừa qua, nhưng không cản được xu hướng cực đoan và sự trỗi dậy của “chính trị thống soái”. Những tiếng nói ủng hộ cải cách như Lý Khắc Cường, Uông Dương và Hồ Xuân Hoa cũng không cản được xu hướng cực đoan và cứng rắn. Vương Nghị chắc sẽ thay Dương Khiết Trì phụ trách đối ngoại, tuy chưa biết ai làm ngoại trưởng.

Nếu kịch bản một là duy trì xu hướng cải cách mà thiếu khả thi, thì kịch bản hai là xu hướng cực đoan và cứng rắn sẽ chiếm ưu thế. Nói cách khác, các đồng minh của Tập sẽ chiếm đa số trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Hàn Chính (68 tuổi) và Lật Chiến Thư (72 tuổi) có thể ở lại Ban Thường vụ. Nhưng ảnh hưởng của nhà lý luận Vương Hỗ Ninh và thủ tướng Lý Khắc Cường có thể không còn phù hợp với ý chỉ của “hoàng đế” Tập Cận Bình.

Trong trường hợp Tập quyết định tăng số ghế của Ban Thường vụ lên chín người, thì Trần Mẫn Nhĩ (62 tuổi) và Đinh Tiết Tường (60 tuổi) là hai ứng viên hàng đầu. Trần Mẫn Nhĩ là sự lựa chọn hợp lý để kế nhiệm Triệu Lạc Tế tại Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chống tham nhũng, còn Đinh Tiết Tường có thể kế nhiệm Vương Hỗ Ninh tại Ban Bí thư, và Hà Lập Phong có thể kế nhiệm Lưu Hạc làm Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế.

Lần đầu tiên kể từ 1978, không có một vị nguyên lão nào đủ sức kiềm chế Tập. Nếu không có các nguyên lão, Tập có thể mắc sai lầm khi theo đuổi các chính sách cực đoan với quyền lực không bị kiểm soát. Đó là chính sách “ngoại giao chiến lang” và “zero covid”.

Theo Cai Xia (Thái Hà), nguyên giảng viên trường đảng cao cấp Trung Quốc, thói tự cao và hoang tưởng của Tập Cận Bình có thể đe dọa tương lai Trung Quốc. Tập không thích bị chỉ trích, hay cố chấp và chỉ thích nghe những ý kiến thuận chiều, mà không thích nghe phản biện nên sẽ mất khả năng tự sửa sai. Ông tiếp tục siết chặt kiểm soát trong nước và theo đuổi tham vọng ngoài nước, nên có thể quyết định cực đoan về Đài Loan. Trong khi dẫn dắt đất nước theo hướng cực đoan, Tập sẽ làm cho Trung Quốc cô lập với thế giới. Sự cạnh tranh giữa các phe phái trong đảng sẽ khốc liệt, phức tạp và tàn bạo hơn. Tập là một nhà quản lý vi mô, làm việc như một “chủ tịch của mọi thứ” (chairman of everything) và “biết tuốt”.

Về đối ngoại, Tập đã thách thức Mỹ và tìm cách thay đổi trật tự thế giới, lấy Trung Quốc làm trung tâm. Ông đã cho quân sự hóa Biển Đông và đe dọa Đài Loan, khuyến khích giới ngoại giao áp dụng “ngoại giao chiến lang”. Về đối nội, ông coi khu vực tư nhân là mối đe dọa quyền lực của mình, và phục hồi kinh tế theo cách của Mao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại do chính phủ can thiệp vào khu vực tư nhân vì mục đích chính trị.

Tập Cận Bình đang đối mặt với sự phản đối ngày càng tăng trong nội bộ giới tinh hoa. Đến nay, Lý Khắc Cường vẫn nhân nhượng trước thái độ kiêu ngạo của Tập, và miễn cưỡng phục tùng khi cần thiết, nhưng có thể ông đã hết khả năng chịu đựng. Xu hướng quản lý vi mô của Tập đã cản trở việc ứng phó với đại dịch khi biến thể omicron lan rộng ở Thượng Hải (2/2022). Ông đã khăng khăng thực hiện chính sách cực đoan “zero-covid”.
 
Gót chân Asin

Theo Kevin Rudd, chủ tịch Asia Society, tuyên bố của Tập Cận Bình về lịch sử và quyền lực còn thiếu tính đột phá và không phù hợp. Ngay trước Đại hội 20, khi Tập củng cố quyền lực và nhắm đến nhiệm kỳ thứ ba, các nhà phân tích đã lý giải xem quan điểm nào sẽ định hướng Tập và tham vọng của Trung Quốc. Hầu hết các học giả Phương Tây coi hệ tư tưởng ******** trên thực tế đã “chấm hết”.

Trong lập luận của mình, Tập đã vận dụng lịch sử để xác lập vị trí của cách mạng Trung Quốc trong lịch sử thế giới, trong bối cảnh Trung Quốc tiến tới giai đoạn cao hơn của chủ nghĩa xã hội trong khi hệ thống tư bản suy thoái. Qua lăng kính của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Tập coi sứ mệnh của mình là một bước tiến trong quá trình tranh đấu quyết liệt giữa Đảng CSTQ và các thế lực phản động trong nước, cũng như các tập đoàn tư nhân.

Theo Tập, Phương Tây có ý định bao vây Trung Quốc bằng những cơ chế mới như QUAD và AUKUS. Đó là nững cơ chế thù địch về chiến lược và dễ đoán định về ý thức hệ, đòi hỏi Trung Quốc phải có cách thức đấu tranh mới để đối phó về chính trị, tư tưởng và quân sự. Dưới sự chỉ đạo của Tập, Trung quốc đã phong tỏa vùng biển và không phận Đài Loan, tập trận quy mô lớn và bắn tên lửa thật tại một số khu vực xung quanh Đài Loan.

Tập Cận Bình có những điểm yếu về chính trị khi định biến Đảng CSTQ thành “một nhà thờ theo đức tin cổ hủ được hồi sinh”. Nếu có thay đổi chính trị thì nó sẽ diễn ra sau khi Tập qua đời chứ không phải trước đó. Tập hiểu rõ nếu ông từ chức thì bản thân và gia đình sẽ có nguy cơ bị những người kế nhiệm trừng phạt vì những ân oán vừa qua. Vì vậy, Tập phải lãnh đạo đất nước suốt đời.

Gót chân Asin của Tập là về kinh tế. Nếu không điều chỉnh hướng đi triệt để thì nền kinh tế sẽ bị đình trệ, với mức tăng trưởng khoảng 3% trong thập niên 2020 trước khi giảm xuống khoảng 2% trong thập niên 2030. Ngoài ra Trung Quốc còn đứng trước các xu hướng suy thoái về cơ cấu: dân số già tăng nhanh, số người lao động giảm sút, năng suất thấp, và mức nợ cao ở khu vực nhà nước và các thể chế tài chính.

Về đối nội, câu hỏi sống còn đối với Trung Quốc trong thập niên 2020 là liệu Tập Cận Bình có khả năng điều chỉnh chính sách mềm mỏng hơn, nhằm phục hồi đất nước sau chu kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Về đối ngoại, cách tiếp cận của Trung Quốc được thúc đẩy không chỉ bởi tính toán về cơ hội và rủi ro chiến lược, mà còn bởi Tập tự tin rằng các xu hướng lịch sử đang không ngừng thúc đẩy Trung Quốc tiến lên phía trước.

Tập Cận Bình nhìn nhận mối đe dọa đến từ mọi phía, và Trung Quốc đang hành xử như đang đối diện “xung đột không thể tránh khỏi”. Vì vậy, Mỹ cho rằng Trung Quốc là thách thức lớn nhất về chính trị và an ninh mà họ phải đối phó sau gần một thế kỷ đã bá chủ về địa chính trị. Trung Quốc không phải Liên Xô, không chỉ vì họ là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới mà còn vì Tập Cận Bình không phải Stalin, và càng không phải Mikhail Gorbachev.

Tổng thống Biden đã công bố “chiến lược an ninh quốc gia” (NSS) của Mỹ (12/10/2022) sau khi trì hoãn vì chiến tranh Ukraine. Biden đã xác định Trung Quốc là “thách thức địa chính trị hệ trọng nhất” (most consequential geopolitical challenge) đối với Mỹ và trật tự thế giới. Đây là thông điệp chính trị mạnh mẽ để răn đe và gây sức ép chưa từng có đối với Trung Quốc, chỉ bốn ngày trước khi Đảng CSTQ khai mạc Đại hội 20.

Có thể nói, chiến lược lâu dài của Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc không thay đổi, và chính sách của Trung Quốc đối với Mỹ cũng không thay đổi. Biden gọi Trung Quốc là “đối thủ chiến lược duy nhất” (the only strategic competitor) có ý đồ lập lại trật tự thế giới và có sức mạnh toàn diện để thực hiện ý đồ đó.

Trong bài diễn văn khai mạc đại hội 20, Tập Cận Bình xác định đây là “thời điểm then chốt” trong lịch sử Trung Quốc, khi ông chuẩn bị bước vào nhiệm kỳ lãnh đạo lần thứ ba. Tập tuyên bố sẽ dùng “mọi biện pháp cần thiết”, kể cả vũ lực để “ngăn chặn xu hướng li khai” và thống nhất Đài Loan.

Thay lời kết

Kết quả Đại hội 20 tuy được giữ kín, nhưng không có gì quá bất ngờ. Tập Cận Bình sẽ tiếp tục nhiệm kỳ thứ ba và hơn thế nữa. Nhưng quyền lực của hoàng đế không phải tuyệt đối và Tập không bất tử. Xu hướng độc tài và cực đoan, chỉ muốn nghe ý kiến thuận chiều là gót chân Asin của Tập. Thế giới sẽ phải đối diện với nước Nga “hậu Putin” và Trung Quốc “hậu Tập” (tuy sẽ muộn hơn) vì không ai thoát quy luật “sinh-lão-bệnh-tử”.

Trước đây, Tập đã mấy lần thoát khỏi ám sát hụt, nhưng không có nghĩa sẽ bất tử. Gần đây, tin đồn về đảo chính mà các nhóm Pháp Luân Công tung ra, tuy thất thiệt nhưng đã lan nhanh và dai dẳng vì hợp với tâm trạng của nhiều người, như một cảnh báo. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” để chống tham nhũng và thanh trừng nội bộ đã gây nhiều ân oán. Tuy các phe nhóm chống Tập không đủ mạnh để thay đổi cuộc chơi, nhưng còn dai dẳng.

Trong nước, chủ trương “zero covid”, trấn áp các tập đoàn tư nhân, và định hướng kinh tế “hướng nội”, đang làm cho kinh tế suy thoái. Ngoài nước, chủ trương “ngoại giao chiến lang”, liên minh “không giới hạn” với Nga, gây căng thẳng tại Biển Đông và Đài Loan, đang làm cho Trung Quốc cô lập hơn với thế giới. Cách điều hành của Tập như “chủ tịch của mọi thứ” không phản ánh thế mạnh, mà bộc lộ những điểm yếu tiềm ẩn về thể chế.
 
Trong mắt người phương Tây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có vẻ giống như hóa thân của chế độ độc tài độc nhân trị. Quan điểm ấy có lý do chính đáng.

Kể từ khi đảm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư Đảng Cộm sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tới nay, ông xóa bỏ cơ chế chia sẻ quyền lực giữa các phe phái trong Đảng, biến một trong những tổ chức chính trị lớn nhất thế giới thành một khối thống nhất. Tại bất cứ nơi nào cũng có thể thấy lời nói, tư tưởng và hình ảnh của ông. Trong một bài phát biểu năm 2016, ông sử dụng các từ ngữ của Mao Trạch Đông, nói ĐCSTQ đang lãnh đạo “Đông Tây Nam Bắc Trung” của Trung Quốc. Có lẽ ông dùng câu nói này để nói về chính mình..

Hiện nay Tập Cận Bình đã chuẩn bị xong xuôi, tại Đại hội lần thứ 20 ĐCSTQ khai mạc vào ngày 16/10/2022, ông sẽ nhận được nhiệm kỳ 5 năm lần thứ ba trong vai trò nhà lãnh đạo tối cao.

Việc ông có thể tập trung nhiều quyền lực như thế mà không bị thách thức là điều chưa từng có tiền lệ, thậm chí khó chấp nhận đối với một số người. Người ta có lý do để cho rằng Trung Quốc quá phức tạp, quá rộng lớn, đồng thời quá tư bản chủ nghĩa, khiến nước này khó tránh được một hình thức đa nguyên chính trị nào đó. Mạng xã hội, giai cấp trung lưu không ngừng phát triển và sự hiện đại hóa nói chung chắc hẳn sẽ đưa xã hội đi theo hướng ấy. Thế nhưng, Tập Cận Bình đã đưa Trung Quốc đi theo hướng ngược lại, và dường như còn có thể vươn xúc tu của mình ra bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc.

Nhưng làm thế nào chuyện đó có thể xảy ra tương đối dễ dàng mà không có đổ máu như vậy? Chuyện này chắc hẳn không thể chỉ dựa vào ý tưởng kỳ lạ đột phát từ một cá nhân.

Cho dù mọi sự chú ý đều tập trung vào một cá nhân Tập Cận Bình, nhưng xét cho cùng thì cuộc đời, sứ mệnh và tư tưởng chính trị của ông đều không thuộc về cá nhân ông, mà là thuộc về ĐCSTQ. Đúng là có một nhà độc tài đang thống trị Trung Quốc đương đại, nhưng người cai trị chính là ĐCSTQ mà Tập Cận Bình đang phục vụ, chứ không phải là cá nhân ông. Hơn nữa, cũng như những người khác, ông bị chính đảng ấy bắt làm tù nhân theo một phương thức kỳ lạ nào đó.

Địa vị của Tập Cận Bình trong lịch sử Trung Quốc phụ thuộc vào việc ông có thể đảm bảo sự thống trị của ĐCSTQ sau khi ông nghỉ hưu sẽ kéo dài bao lâu, chỉ có như vậy thì ĐCSTQ mới thực hiện được mục tiêu căn bản của họ: phục hưng đất nước vĩ đại phù hợp với tên gọi có từ thời cổ của nó – “Trung Quốc”, tức “Trung tâm thế giới”.

Trong thế kỷ 19 và 20, Trung Quốc bị các cường quốc phương Tây cướp đoạt, năm 1912 đế chế Trung Quốc sụp đổ rồi bị Nhật Bản xâm lược. Kể từ đó tới nay, Trung Quốc thường xuyên tiến hành chuẩn bị sứ mệnh kể trên. ĐCSTQ giải quyết được vấn đề đất nước bị chia cắt. Quyền lực của Tập Cận Bình xuất phát từ mục tiêu dân tộc chủ nghĩa của ĐCSTQ: rửa sạch những nỗi nhục trong quá khứ, phục hồi sức mạnh quốc gia, thu hồi các lãnh thổ “để mất” như Đài Loan. Có lẽ chủ nghĩa phục thù là sức mạnh thúc đẩy Tổng thống Nga Putin, nhưng đối với Trung Quốc thì chủ nghĩa đó là con đường sống.

Tập Cận Bình là con trai Tập Trọng Huân, một nhà lãnh đạo lớp trước của ĐCSTQ, ông học được từ cha mình một bài học: Cho dù Đảng đối xử với mình thế nào thì mình vẫn phải giữ được niềm tin đối với Đảng.

Tập Trọng Huân từng bị thanh trừng trong thời kỳ Mao Trạch Đông, bị giam lỏng nhiều năm, cho tới khi Mao Trạch Đông qua đời mới được phục hồi. Trong thời gian cách mạng văn hóa, Hồng Vệ Binh khám nhà Tập Trọng Huân; một người chị của Tập Cận Bình bị chết trong loạn lạc. Mọi người trong gia đình họ Tập bị đưa ra các cuộc họp đấu tố, bị công kích cá nhân. Mẹ Tập Cận Bình còn bị buộc tố cáo Tập Cận Bình. Về sau, Tập Cận Bình hưởng ứng lời kêu gọi “Học tập nông dân” của Mao Trạch Đông, xuống nông thôn sống 7 năm.

Quãng đời ấy làm cho Tập Cận Bình trở nên kiên cường, cũng làm ông kiên định niềm tin của mình. Một báo cáo mật năm 2009 của Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc cho biết: Một người bạn trong thời kỳ khó khăn ấy của Tập Cận Bình nhớ lại rằng Tập Cận Bình hồi trẻ có hình ảnh một người tràn đầy niềm tin vào vận mệnh của mình. Là thành viên của nhóm “Thái tử đảng”, ông coi việc lãnh đạo ĐCSTQ là quyền lợi sinh ra đã có của mình, phải “tập trung toàn bộ sức chú ý vào việc đó”. Người bạn ấy nói, Tập Cận Bình tin tưởng sâu sắc rằng chỉ ĐCSTQ mới có thể thực hiện được sự phục hưng vĩ đại của Trung Quốc, ông không bị các lợi ích vật chất làm xói mòn. Vấn đề là ở chỗ liệu ông có thể chống lại được cảm giác say sưa do quyền lực mang lại hay không.

Năm 2012, khi Tập Cận Bình đảm nhiệm chức Tổng Bí thư ĐCSTQ, lúc này Trung Quốc đã hoàn thành việc chuyển đổi sang mô hình tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng đã xuất hiện các vấn đề mới. Mười năm dưới sự lãnh đạo của người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào là mười năm lỡ mất cơ hội, dường như ĐCSTQ quên mất sứ mệnh vĩ đại phục hưng dân tộc. Các quan chức địa phương tham nhũng như những tiểu bạo chúa thống trị địa bàn của mình, các biện pháp áp bức tàn khốc, nạn tham nhũng trắng trợn, điều kiện lao động tồi tệ, vấn đề ô nhiễm nặng nề đã dẫn đến sự phản kháng gay gắt.

Trong mấy năm đầu sau khi nhậm chức, Tập Cận Bình tập trung lực lượng làm phong trào chống tham nhũng, nhưng phong trào này thường hay bị bên ngoài coi là cái cớ để tiêu diệt đối thủ. Tuy vậy, mục đích chính của ông là thay đổi ĐCSTQ, làm cho nó trở nên có hiệu quả cao hơn, khôi phục hình ảnh của ĐCSTQ.

Có điều đáng chú ý là hầu như Tập Cận Bình chưa gặp bất cứ trở lực lớn nào. Cho dù Mao Trạch Đông làm người ta kính trọng và sợ hãi, nhưng từng có người phản đối chính sách không tưởng mang tính phá hủy lớn của Mao. Công cuộc cải cách thị trường của Đặng Tiểu Bình từng gặp lực cản, Giang Trạch Dân không thể không ứng phó với các thế lực muốn tiến hành cải cách lớn hơn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình, ngoại trừ những tin đồn về sự bất mãn nội bộ thỉnh thoảng tung ra và một số lời phê bình đến từ tầng lớp thấp, hầu như trong Đảng không có bất cứ ý kiến phản đối nào.

Nguyên nhân một phần là sức mạnh của sứ mệnh chủ nghĩa dân tộc. Sức hút của chủ nghĩa dân tộc đối với công dân Trung Quốc vượt xa khái niệm trừu tượng của chủ nghĩa Mác Lê. Tình cảm tự hào yêu nước thể hiện trong thời gian Thế vận hội mùa đông Bắc Kinh hồi tháng Hai năm nay là tình cảm chân thành. Khi Mỹ và các nước khác đổ lỗi cho Trung Quốc về đại dịch COVID-19, do lòng tự tôn bị tổn thương, người Trung Quốc từ đáy lòng tỏ ra tức giận. Ngay cả những người Trung Quốc chán ghét sự cai trị của ĐCSTQ cũng vẫn rất yêu đất nước mình.

Vận may của Tập Cận Bình là ông có thể vươn lên dựa vào nền tảng tiến trình do các vị tiền bối thực hiện. Nhưng ông cũng có bản lĩnh của mình. Mọi người từng cho rằng Internet sẽ đe dọa sự cai trị chuyên chế tập trung hóa, thế nhưng Chính phủ Tập Cận Bình bằng cách sử dụng các biện pháp như thuật toán, công nghệ nhận diện và giám sát điện tử quy mô lớn, đã bảo vệ được quyền lực của ĐCSTQ trên phạm vi rộng lớn hơn. Trong phần lớn thời gian của thế kỷ 20, Trung Quốc từng là quốc gia lạc hậu về kỹ thuật, nhưng hiện nay là quốc gia chuyên chế có kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới.

Phong cách cứng rắn được mọi người chú ý của Tập Cận Bình không hoàn toàn là mục tiêu, dã tâm hoặc giá trị bản ngã của cá nhân ông (mặc dầu có thể ông chắc chắn có những cái đó). Trung Quốc đã lớn mạnh trở lại; trách nhiệm duy nhất của Tập Cận Bình là không làm hỏng sự nghiệp ấy. Đây là lý do vì sao ban lãnh đạo của ông không muốn gặp rủi ro, đã đàn áp mạnh mẽ những người bất đồng chính kiến. Sự trấn áp có hệ thống ở Tân Cương là biểu hiện cực đoan nhất niềm say mê giữ ổn định của ông, thậm chí bất chấp sự phê bình của quốc tế và rủi ro trong nước chịu đau khổ. Chính sách “Zero Covid” không chút thỏa hiệp của ông cũng xuất phát từ nguyên nhân đó.

Những điều kể trên cùng với các ví dụ về thi hành kỷ luật và kiểm soát khác giống như mệnh lệnh của sĩ quan chỉ huy, phát ra để chuẩn bị cho trận kịch chiến cuối nhằm giành được thắng lợi cuối cùng: thực hiện sự phục hưng vĩ đại của Trung Quốc, thậm chí có lẽ sẽ có ngày vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tập Cận Bình và các đồng sự trong Đảng hiểu rằng chỉ một sai lầm là có thể làm hỏng tất cả.

Dĩ nhiên Tập Cận Bình cũng có ngày sẽ không cầm quyền nữa. Nhưng phẩm chất đặc biệt trong sự lãnh đạo của ông – xây dựng hình ảnh công chúng của nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiệm, giữ cho nó tránh được mọi sự đe dọa, và tập trung tinh thần sức lực vào việc làm cho Trung Quốc trở nên lớn mạnh, được tôn trọng, thậm chí làm mọi người sợ hãi – sẽ tiếp tục tồn tại. ĐCSTQ đã đầu tư quá nhiều công sức vào mục tiêu to lớn này.

Kerry Brown là giám đốc Viện Nghiên cứu Trung Quốc tại King’s College, London, cựu quan chức ngoại giao Anh, và là tác giả của một số cuốn sách viết về chính trị Trung Quốc, trong đó có cuốn “The World According to Xi.”
 
Nhật Bản gấp rút tái vũ trang trước tham vọng xâm lược Đài Loan của Trung Quốc

Giữa Đại hội Đảng Cộm sản Trung Quốc lần thứ 20 diễn ra từ Chủ nhật (16/10) và lần Đại hội tiếp theo vào năm 2027, Nhật Bản sẽ tiến hành hoạt động xây dựng vũ khí lớn nhất kể từ Thế chiến II trong một cuộc đua nhằm ngăn chặn Bắc Kinh leo thang quân sự ở Đông Á, theo các quan chức chính phủ Nhật Bản và các nhà phân tích an ninh.


Nhật Bản xác định Trung Quốc là đối thủ chính trong Sách trắng Quốc phòng năm 2019, lo ngại rằng việc Bắc Kinh liên tục gây áp lực lên Đài Loan và hiện đại hóa quân sự nhanh chóng gây ra mối đe dọa an ninh nghiêm trọng. Theo các chuyên gia an ninh, lo lắng đó càng gia tăng kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, và điều này cũng khiến sự phản đối của công chúng Nhật Bản đối với việc tái vũ trang dần suy giảm.

Takashi Kawakami, giáo sư tại Đại học Takushoku ở Tokyo, cho biết chính phủ Nhật Bản nhận thức rõ ràng nguy cơ và sẽ làm bất cứ điều gì có thể. Ông nói thêm, vào năm 2027 khi thời điểm cán cân quyền lực của Đông Á có thể nghiêng về phía Trung Quốc, chính phủ Nhật Bản có thể tập hợp sự ủng hộ để tăng chi tiêu quốc phòng.

Ngoài việc là lần tiếp theo các đại biểu Đảng Cộm sản tập trung tại Bắc Kinh, năm 2027 còn là cột mốc quan trọng trong lộ trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc và kỷ niệm 100 ngày thành lập Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA). Tại cuộc điều trần trước Quốc hội năm ngoái, Đô đốc Philip Davidson, chỉ huy khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương của Mỹ nói rằng mối đe dọa của Trung Quốc đối với Đài Loan có thể “lộ diện” trong năm đó.

Đối với Nhật Bản, để mất Đài Loan vào tay Trung Quốc đại lục kiểm soát có thể là một thảm họa vì nó sẽ gây nguy hiểm cho các tuyến vận tải chính cung cấp gần như tất cả dầu cho Nhật Bản và nhiều nguyên liệu mà nước này sử dụng để sản xuất. Nó cũng sẽ cho phép hải quân Trung Quốc tiếp cận Tây Thái Bình Dương từ các căn cứ trên đảo.

Một quan chức cấp cao của chính phủ Nhật Bản tham gia vào các kế hoạch quốc phòng cho biết: “Có nhiều sắc thái ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung, các quan chức chính phủ có cùng quan điểm về tầm quan trọng của năm 2027.”

“Điều này đã được thảo luận trong nội bộ”, ông nói thêm, yêu cầu không nêu danh tính vì tính nhạy cảm của vấn đề.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết Nhật Bản đang sử dụng Trung Quốc như một cái cớ để tăng cường quân sự.

“Các lực lượng chính trị ở Nhật Bản đã nhiều lần sử dụng Trung Quốc như một cái cớ để cố tình thổi phồng căng thẳng khu vực. Khi làm như vậy, phía Nhật Bản chỉ tìm cớ để củng cố quân đội và mở rộng quân đội của mình”, Bộ này cho biết.

Tại đại hội ở Bắc Kinh, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi đẩy nhanh kế hoạch xây dựng quân đội đẳng cấp thế giới của Trung Quốc và tuyên bố đất nước của ông sẽ không bao giờ từ bỏ quyền sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan.

Vấn đề Đài Loan
Các mối quan hệ ngoại giao và kinh tế của Nhật Bản với Trung Quốc làm cho nước này khó có thể cam kết trực tiếp bảo vệ Đài Loan. Nhưng với lãnh thổ gần nhất của Nhật Bản chỉ cách hòn đảo khoảng 15 km, nước này có thể bị lôi kéo vào cuộc xung đột với Bắc Kinh.

Một quan chức chính phủ Nhật Bản khác tham gia vào kế hoạch cho biết Trung Quốc có thể cố gắng chiếm các đảo của Nhật Bản gần với Đài Loan để thiết lập hệ thống phòng không và chống lại bất kỳ cuộc tấn công nào.

Vào tháng 8, Trung Quốc đã phóng tên lửa vào vùng biển cách các đảo này chưa đầy 160 km trong các cuộc tập trận sau chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi.

Các căn cứ quân sự, sân bay, cảng biển và các trung tâm hậu cần khác của Nhật Bản cũng có thể trở thành mục tiêu hấp dẫn cho các cuộc tấn công bằng tên lửa của Trung Quốc vì chúng sẽ là nơi tập trung lực lượng Mỹ.

Yasuhiro Matsuda, giáo sư chính trị quốc tế tại Đại học Tokyo và là cựu nghiên cứu viên cấp cao của Bộ Quốc phòng, cho biết khi xây dựng kế hoạch phòng thủ, Nhật Bản cần xem xét kịch bản Washington không đáp trả cuộc tấn công của Trung Quốc nhằm vào Đài Loan.

Chạy đua vũ trang
Cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine, mà nước này gọi là một “chiến dịch quân sự đặc biệt”, đã giúp chuyển biến dư luận ở Nhật Bản khỏi chủ nghĩa hòa bình thời hậu chiến, vốn đã thống trị chính sách quốc phòng trong nhiều thập kỷ.

Trong một cuộc thăm dò dư luận do đài truyền hình NHK công bố vào tháng này, 55% trong số 1.247 người được khảo sát cho biết họ ủng hộ việc tăng chi tiêu quốc phòng, so với 29% phản đối. Trong số những người ủng hộ phát triển quân đội hùng mạnh hơn, 61% cho rằng Nhật Bản nên làm bằng việc cắt giảm chi tiêu công.

Vào tháng 7, Thủ tướng Fumio Kishida đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử thượng viện quốc gia với cam kết tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng. Đảng Dân chủ Tự do cầm quyền của ông hứa sẽ tăng gấp đôi ngân sách quân sự lên khoảng 10 nghìn tỷ yên trong vòng 5 năm.

Số tiền tăng thêm này đó sẽ dùng để chi trả cho các tên lửa tầm xa hơn có thể tấn công tàu chiến ở xa và các mục tiêu trên bộ ở Trung Quốc hoặc Triều Tiên.

Các dự án lớn bao gồm máy bay chiến đấu phản lực mới để triển khai vào những năm 2030, rất có thể sẽ được hợp nhất với máy bay tàng hình Tempest do Anh đề xuất. Việc tăng chi tiêu quốc phòng cũng sẽ mang lại lợi ích cho các nhà cung cấp của Mỹ như Lockheed, Boeing và Northrop Grumman Corp.

Thủ tướng Kishida sẽ tiết lộ chi tiết về kế hoạch chi tiêu quân sự vào tháng 12 cùng với một chiến lược an ninh được cải tiến. Chiến lược đó được kỳ vọng sẽ mang lại cho Nhật Bản vai trò an ninh khu vực lớn hơn bên cạnh Hoa Kỳ, quốc gia có hàng nghìn quân, hàng trăm máy bay và hàng chục tàu chiến được triển khai tại Nhật Bản.

Các nhà phân tích cho rằng, sự tập trung của Nhật Bản vào Trung Quốc sẽ không bị lung lay, ngay cả khi đối thủ hàng đầu của họ, Triều Tiên, đang trong chu kỳ thử tên lửa mới. Sau vụ Đại hội Đảng Cộm sản Trung Quốc, chế độ Kim Jong Un được cho là sẽ tiếp sau một vụ thử hạt nhân.

Một chỉ huy cấp cao của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản cho biết, Nhật Bản muốn để Hàn Quốc dẫn đầu trong việc đối phó với nước láng giềng phương bắc hiếu chiến của mình.
 
Tập vẫn đang cầm quyền thì chưa đánh đâu nên nhớ càng khủng hoảng thì quyền lực càng tập trung vào TW, có thể đó mới là lúc
 
tập có mà dám đánh đài loan nó sẽ chiếm hết trường sa trước , khoe cơ bắp thì thế là đủ
 
tập có mà dám đánh đài loan nó sẽ chiếm hết trường sa trước , khoe cơ bắp thì thế là đủ
nếu điều đó xảy ra tao sẽ ra xem tụi bò đỏ biểu tình =))
quay lại và cười hề hề vào mặt chúng nó :))
 
nếu điều đó xảy ra tao sẽ ra xem tụi bò đỏ biểu tình =))
quay lại và cười hề hề vào mặt chúng nó :))
tao tin tưởng 100% là sẽ chiếm sạch trường sa là đủ rồi cần quái gì khoe cơ mà phải sờ vào thằng đài chẳng để làm gì việc nó chiếm sạch trường sa sẽ gây ra 1 tiếng nổ to chẳng kém nó đánh đài mà nó lại an toàn hơn về mặt chiến thuật , đồng thời đối thủ thì yếu hơn hẳn và sự chống cự là yếu ớt hơn rất nhiều , cơ bắp khoe ra càng mạnh mẽ hơn :)))
lúc đấy xem bọn nga trắng nó cười vào mặt bọn việt nam và hô tập vương vạn tuế thì nhục như chó, kiểu đau như tìn đầu phản bội vạy .
 
Hãy tìm điểm chung giữa Nhật Bản trước WW2 và TQ hiện nay:
1. Có đồng minh Fatshit châu Âu
2. Học hỏi công nghệ p.tây
3. Tham vọng vươn lên thống trị nhưng bị cười nhạo và đè đầu
4. Bản thân ko dân chủ, AQ: vừa ngạo nghễ vừa tự ti, có hoàng đế thần thông quảng đại không thể nghĩ bàn (sợ ko dám bàn)
5. Bị cấm vận đúng yếu huyệt, mọi thứ tê liệt, tuyệt vọng mạnh động dù biết khó ăn
6. Cần tấn công những cứ điểm trên đại dương để thoát khốn
7. Lấy lượng bù chất, cuối cùng cái gì cũng ko đủ.
8. Cần ngoan để sống sót chờ thời nhưng ko muốn ngoan, muốn làm hảo hớn, võ sĩ đạo
9. Dự đoán: đc xem nấm mọc
 

Có thể bạn quan tâm

Top